Multimedia
CHIA SẺ

Trong Làng trẻ em SOS Gò Vấp, cô Đặng Thị Bích Thủy (SN 1959) thuộc thế hệ những người mẹ đầu tiên chăm sóc cho những đứa trẻ mồ côi, cơ nhỡ.

Vào làng từ năm 1990, cũng là thời điểm làng trẻ được thành lập, đến nay dù đã nghỉ hưu nhưng vì làng chưa tìm được người thay thế nên cô Thủy vẫn tiếp tục công việc nuôi dạy các con.

Cô Thủy nhớ lại, ngày đầu tiên vào đây là khi cô vẫn còn làm giáo viên dạy mầm non, đi ngang qua làng thấy thông báo tuyển các bà mẹ, người bạn đi cùng cô liền rủ 'thôi hai đứa mình không lấy chồng nữa, vào đây làm mẹ đi!'.

'Lúc đó cô 30 tuổi, trong đầu luôn sợ lập gia đình vì thấy những người chị làm cùng lấy chồng về đều gặp cảnh éo le, gia đình lục đục. Vậy là không chần chừ gì mà đồng ý luôn' - mẹ Bích Thủy hào hứng khi kể lại câu chuyện cũ. Nói là làm, hai người bạn bỏ ngang công việc đang làm, xin vào làng nuôi dạy những đứa trẻ mồ côi.

Nhưng, éo le thay, người bạn rủ mẹ Thủy vào làng lại không thể trụ lại nơi đây lâu dài. 'Hai năm sau, người bạn ấy xin ra ngoài rồi gặp người mới kết hôn. Cô cũng đi ăn cưới, mừng cho bạn nhưng mình thì vẫn không hề có suy nghĩ sẽ lấy chồng'.

Thời gian cứ trôi, bẵng đi đã gần 30 năm mẹ Bích Thủy gắn bó với nhịp sống chậm rãi diễn ra trong ngôi làng SOS, gần như tách biệt với cuộc sống phố thị xô bồ ngay bên ngoài cánh cổng chỉ cách đó mấy trăm mét.

Cũng cùng thế hệ những bà mẹ đầu tiên của Làng trẻ em SOS Gò Vấp với mẹ Bích Thủy còn có mẹ Lê Thị Vinh (SN 1953), vào làng từ hồi tháng 11/1989. Năm ấy mẹ Vinh 36 tuổi, vào làng khi 'chưa một mảnh tình vắt vai'. 'Tình cờ buổi trưa đọc được mẩu tin tuyển các bà mẹ. Ba mất từ năm 9 tuổi, một chút gì đó đồng cảm với những đứa trẻ thiếu cha mẹ, vậy là đi' - mẹ Vinh nói.

Những 'đời người con gái chưa một lần yêu ai' đó chính là cụm từ chính xác khi nhắc đến 'tình trường' của rất nhiều bà mẹ đang sống nơi đây. Mỗi người một hoàn cảnh, một cơ duyên đẩy đưa, nhưng giữa họ có một điểm chung đó là khi đã vào đây, cuộc sống gắn bó với những đứa trẻ trở nên lấn át những suy nghĩ riêng tư đời thường.

Mẹ Thủy chia sẻ: 'Hồi đầu mới vào đây, có nhiều người bạn nam vào thăm nhưng mình không nghĩ đến chuyện lập gia đình. Nhìn những đứa trẻ, mình thương nó rồi thì tự nhiên không nghĩ tới chuyện yêu đương nữa'.

Vào làng trẻ từ năm 2000, trước khi lên làm mẹ, cô Nguyễn Thị Yến (52 tuổi, quê Bến Tre) có tới 14 năm làm dì.

Cô Yến kể, làm dì thì tức là ở dưới nhà cộng đồng - ngôi nhà nằm ngay cổng vào làng trẻ, là nơi tiếp những đoàn khách. Hàng ngày cô ở đó tiếp khách và nấu cơm cho nhân viên. Khi có em bé được đưa vào làng, hoặc có những bé thì bị bỏ rơi ngoài cổng làng, cô Yến sẽ là người nhặt các con vào nuôi.

Những đứa trẻ vào đây đều có hoàn cảnh cơ nhỡ, có bé mồ côi cả cha lẫn mẹ, có bé mồ côi cha hoặc mẹ, có những đứa trẻ bị bỏ rơi ở cổng làng, lại có những em được người nhà đưa vào nhờ nuôi dưỡng vì quá khó khăn hay lỡ lầm…

Các bé được dì nuôi ngay tại nhà cộng đồng trong vòng 1 tuần đến nửa tháng rồi chuyển cho các mẹ ở trong làng về nuôi. Nhưng nếu trong vòng chừng đó thời gian không có gia đình nào nhận nuôi, em bé sẽ được chuyển đến hệ thống các làng SOS khác trên cả nước.

Cô Yến kể ở dưới cộng đồng, bao nhiêu đứa trẻ vào đây đều qua tay mình, không biết bao nhiêu lần chuyển các con đi những nơi khác, cô khóc lên khóc xuống. Suốt 14 năm làm dì, nhớ nhất vẫn là lần cô đón nuôi một bé gái bị hở hàm ếch bị bỏ rơi ngay trước cổng làng.

'Khi ẵm nó, con bé còn đỏ hỏn, khóc quá trời luôn. Mới đầu cô còn không biết sẽ cho bú thế nào vì bé bị hở hàm ếch, cái lúc đút sữa vào bé không bú được, khóc từ sáng đến đêm. Đến tận lúc mình lấy chén sữa đút được vào, trời ơi nó hút ọp ọp ọp, lúc đó thương vô cùng thương'.

Em bé ấy mặt mũi hồng hào, nhưng tổ chức làng trẻ SOS thì lại không cho nuôi trẻ có tật, thành ra phải đem bé vào một cơ sở khác. 'Lúc đó thấy thương bé lắm, mình cũng không đành mà khóc quá chừng luôn'. Rồi cứ mỗi chiều chủ nhật, cô lại đến cơ sở đó thăm bé, cho tới khi bé đươc 6 tháng tuổi thì có một phái đoàn ở Đức qua và xin về nuôi.

Tám năm sau bé gái có quay về làng trẻ, nhưng lúc đó cô Yến đi khám bệnh nên không gặp được. 'Khi về, nghe mọi người trong nhà cộng đồng kể lại, người ta đã vá hàm ếch cho bé rồi, mọi người còn bảo bé biết nói được tiếng Anh, tiếng Đức, vui lắm. Cô nhớ nó thì đi lên đi xuống đều khóc, nhưng có người xin nuôi nó thì cô mừng lắm' - nhắc lại, người mẹ ấy lại rưng rưng nước mắt.

Từ năm 2014, cô Yến lên làm mẹ, nuôi dưỡng những đứa con trong ngôi nhà số 14 mang tên Ngọc Lan. Ở Làng trẻ em SOS Gò Vấp có 20 'nhà gia đình'. Trong mỗi 'nhà gia đình' như thế có 1 người mẹ và từ 6 đến 10 người con.

Dù số lượng trẻ qua tay chăm sóc ít hơn thời kỳ làm dì, nhưng theo cô Yến, làm mẹ vất vả hơn nhiều. 'Làm mẹ tức là mình chăm sóc, lo cho các con như những đứa con ruột, không bỏ qua một việc gì hết'.

Ngôi nhà Ngọc Lan của mẹ Yến hiện có 7 người con, bé lớn nhất 12 tuổi, bé nhỏ nhất 4 tuổi cũng chính là cô bé tự tay cô Yến 'nhặt' từ cổng làng vào cách đây 4 năm - bé Nam Giao, không cha không mẹ - luôn quẩn quanh cô trong suốt cuộc nói chuyện, chốc chốc em lại rướn lên hôn má mẹ.

Nhưng không phải đứa trẻ nào vào SOS cũng ngoan ngoãn, cũng tình cảm như Nam Giao.

Vừa nhắc đến vấn đề này, mẹ Bích Thủy đã tặc lưỡi, chỉ vào mấy đứa con đang chơi đùa dưới sàn: 'Nhà này trẻ khó dạy nhiều lắm, đấy như hiện tại có 3 đứa này cũng khó dạy, đưa đi đâu cũng không ai dám nhận tại vì nghịch quá'.

Mẹ kể có cậu bé năm nay học lớp 5, gia đình khó khăn, mẹ mất, bố bỏ đi, bà ngoại đưa vào đây nhờ chăm sóc. Bản tính hung hăng, hồi đầu mới vào, cậu bé cào vào tay bất kỳ người nào em gặp, ngay cả mẹ Thủy cũng nhiều lần bị bé cào chảy máu. Mỗi lần thầy cô nói điều gì không vừa ý, cậu lập tức nổi khùng, xô bàn ghế đến nỗi chính thầy giáo cũng không dám đụng tới.

Nhớ năm lớp 3, cậu bé bị cô giáo đình chỉ học 3 ngày. Khi lên làm việc với Ban Giáo dục của làng để xử lý, mẹ Thủy thẳng thắn đề nghị: Cô cho nghỉ 3 ngày thì mẹ cho nghỉ 1 tuần. Thế là suốt 1 tuần ấy, cứ sáng các bạn mang cặp đi học thì mẹ Thủy lại bắt cậu bé đi quét lá cùng mẹ.

Cứ thế cho đến tận ngày thứ tư, thứ năm, cậu bé mệt quá, xin đi học lại, mẹ Thủy vẫn cương quyết gọi điện cho cô giáo là xin cho con nghỉ thêm 2 ngày nữa, 'phải đến tận lúc bé tự cảm nhận được việc học là cần thiết thì mới cho đi học' - mẹ Thủy cương quyết (cười).

Một tuần lao động nhớ đời, trước khi được đi học trở lại, cậu bé còn phải viết bản cam kết, xin lỗi cô giáo và nhân viên giáo dục ngay trước mặt mẹ. Suốt học kỳ sau đó, cậu học hành ngoan ngoãn, không có thêm điều tiếng gì.

Nhưng, dạy những đứa trẻ nghịch ngợm đã khó thì nuôi những đứa trẻ bệnh tật lại khó gấp vạn lần. Trong số gần 40 người con đã qua bàn tay chăm sóc của mẹ Bích Thủy, có những đứa trẻ sức khỏe không bình thường. Câu chuyện của cặp anh em sinh đôi, một trai một gái, đều bị động kinh lại suy dinh dưỡng vào làng từ hồi mới 5 tháng tuổi là một ví dụ.

Mẹ Thủy kể, hồi nhận hai đứa về từ nhà cộng đồng, bên trái mẹ bế thằng anh, bên phải mẹ bồng cô em. 'Cả hai đứa nhẹ tênh, gầy gò, nhỏ xíu à'.

Rồi cũng đến ngày đầu tiên mẹ chứng kiến cảnh cô con gái này bị động kinh: 'Con bé khi đang nằm với mình, tự nhiên lăn xuống đất, cái đầu chỉ vừa chạm đất rất nhẹ mà người con bé co lên rồi tím tái. Lúc đó sợ lắm, mình cuống lên, nhỡ con bé chết?'... Cả làng trẻ đêm hôm đó nhốn nháo tìm đủ mọi phương cách cứu chữa cho bé. Sau đó, mẹ Thủy vỗ mạnh vào lưng của đứa trẻ, từ từ bé mới hồi tỉnh lại.

Có lần khác đi tiêm phòng, bác sĩ vừa rút kim tiêm ra, cô bé này cũng ngay lập tức tím tái, người cứng đơ, sùi bọt mép. 'Bác sĩ hoảng hốt kêu lên 'chị ơi cháu bị làm sao vậy?'. Khi đó mình cũng sợ, cũng run nhưng vẫn cố bình tĩnh nói 'không sao đâu' rồi vỗ vào lưng bé. Một lúc sau, bé dần tỉnh lại, bác sĩ mới thở phào 'Trời ơi chị nuôi như vậy em cũng phục chị, mà nuôi cả hai anh em đều bị bệnh như vậy'. Lúc đó, mình vẫn còn lo cho cả một đàn con khác nữa'…

Nói rồi, khuôn mặt mẹ Thủy đăm chiêu, hai đứa trẻ sinh đôi năm ấy nay đã đến tuổi 18, được người bà đón về nuôi. Các em đều là là những đứa trẻ bị ảnh hưởng chất độc da cam. 'Con bé nay nằm một chỗ, chắc khó qua khỏi, còn thằng anh thể trạng cũng yếu lắm' - mẹ gạt nước mắt, đành bất lực.

Nỗi chạnh lòng mang tên nuôi con nhà người, đó là tâm lý chung của rất nhiều bà mẹ nơi đây. Trò chuyện với chúng tôi, cô Yến ngậm ngùi: 'Mình coi những đứa trẻ như con nhưng mà chúng thì chưa chắc coi mình là mẹ đâu, tại vì các con đều có gia đình riêng, có ông bà chú bác, nên mình có nuôi, có thương hết lòng hết dạ cũng chưa chắc chúng đã thương lại mình giống như thế'.

'Chạnh lòng lắm! Nhưng rồi lại nghĩ đó là trách nhiệm, chăm sóc các con thành người là được, chứ bây giờ nói đợi các con nuôi lại hay trả ơn mình thì làm sao được'. Nói rồi, cô Yến lại khóc, sụt sùi hướng mắt về cô con gái nhỏ: 'Lo nhất là Nam Giao, tại vì những đứa kia đều có gia đình, còn cha còn mẹ, có trẻ còn ông bà, nhưng Nam Giao thì không có ai cả, mình thì lớn tuổi rồi mà con bé còn nhỏ quá…'. Cô bé Nam Giao thấy mẹ nhắc đến mình chốc chốc lại chạy tới ôm hôn mẹ. Đôi mắt tròn lung linh của em dường như chưa cảm nhận được những nỗi thiệt thòi.

Thế nhưng, với mẹ Vinh thì lại khác, mẹ nói: 'Mọi người cứ nói vào đây là mất tuổi xuân hay phải đánh đổi gì đó nhưng cô thì không nghĩ như vậy. Với cô, suốt 30 năm gắn bó ở đây, được nhiều hơn mất. Là bởi vì cô chỉ có một mình để dành tình thương cho các con, nhưng có tới 38 đứa con gọi cô bằng mẹ thì làm sao những gì mình cho đi nhiều bằng tình thương mà các con dành lại cho mình được'.

30 năm nuôi dạy những đứa trẻ, mẹ Vinh có 38 người con, 8 người đã lập gia đình, hồi tháng 6 mẹ vừa đón đứa cháu thứ 12 chào đời. Thường vào các thứ 7, chủ nhật hàng tuần, và cả những ngày lễ như mùa Vu Lan, các con lại về thăm mẹ, những người lập nghiệp ở xa thì gọi điện về hỏi thăm.

Tục xưa, mùa Vu Lan lên chùa cầu bình an cho gia đình, những ai còn mẹ sẽ cài một bông hồng đỏ, còn ngược lại thì sẽ là một bông hồng trắng. Những trẻ mồ côi vô thừa nhận, vốn lớn lên với một bông hồng trắng, nhưng đã có những người mẹ khác hy sinh cuộc đời mình để cài cho chúng những bông hồng đỏ. Đó cũng là lòng nhân ái mà mọi tôn giáo đều mong đợi ở con người.

Theo Tâm Nguyễn/Baodatviet.vn