Bay bổng indie….

Mới đây, Viettel tuyên bố lấn sân điện ảnh bắt đầu từ dòng phim độc lập bằng cách ủng hộ các đạo diễn trẻ với phương châm 'chắp cánh tài năng'. Giới chuyên môn đã có nhiều nhận định tích cực rằng tiềm lực và cách làm khác biệt của Viettel có thể mang đến những sản phẩm chất lượng cho thị trường phim ảnh đầy tiềm năng.

Dòng phim độc lập tại Việt Nam trong nhiều năm qua đã thể hiện một cách dứt khoát tầm nhìn cá nhân, độc đáo với nhiều thành tích đáng tự hào tại các LHP uy tín trên thế giới. Tuy vậy, đạo diễn phim độc lập hiện nay vẫn chật vật trong con đường tìm các đơn vị hỗ trợ bền bỉ, bài bản để tự do sáng tạo. Đặc biệt, đây là khoảng thời gian chuyển giao giữa các thế hệ đạo diễn, một thế hệ mới trẻ hơn, năng động hơn, giàu sức sáng tạo đang hình thành. Họ vượt qua những giới hạn bản thân, nắm bắt thời cuộc, biết cách đưa tác phẩm đến công chúng qua nhiều kênh phát hành.

Trước kia, một bộ phim hay, được giải ở LHP đình đám mới được khán giả trong nước chú ý, nhưng ngày nay, nhiều tác phẩm độc lập ngay khi ra đời đã được truyền thông rầm rộ trên các kênh mạng xã hội và các nền tảng số khác nên dễ dàng đến với công chúng hơn.

Chia sẻ về lý do vì sao đầu tư cho dòng phim độc lập này, ông Võ Thanh Hải, Giám đốc công ty Truyền thông Viettel cho biết: 'Phim thương mại sẽ cố gắng tuân theo công thức chung để đạt được doanh số cao, trong khi đó indie ít chịu áp lực doanh số hơn, nhờ đó nó có thể phản ánh cá tính sáng tạo của nhà làm phim một cách bản năng nhất, phá cách nhất, với cái nhìn mới mẻ và tinh thần tự do sáng tạo'. Tư tưởng ấy chính là điều kiện tốt để sản sinh ra tác phẩm chất lượng cao. Các đạo diễn trẻ hiện nay đang cần chính là các điều kiện để hiện thực hóa các ý tưởng.

Tiến sĩ Hoàng Cẩm Giang, giảng viên Bộ môn Nghệ thuật học, khoa Văn học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội – một đơn vị đào tạo lý luận, lịch sử điện ảnh bày tỏ quan điểm: 'Đây là một tín hiệu đáng mừng cho điện ảnh độc lập tại Việt Nam, thể hiện rằng các công ty, doanh nghiệp (có vốn nhà nước) trong nước bắt đầu quan tâm đến phim ảnh như một loại hình nghệ thuật quan trọng, có tính xã hội hoá cao và ảnh hưởng rộng sâu đến quần chúng'.

Bên cạnh việc Viettel 'chắp cánh' các nhà làm phim độc lập, cũng cần tính đến việc giảm nhẹ, tinh giản hoá khâu kiểm duyệt, phê duyệt kịch bản và phát hành phim - bởi bên cạnh kinh phí, đây vẫn là những yếu tố khó khăn then chốt đối với phim độc lập. Khi các đạo diễn theo đuổi hướng điện ảnh 'art-house' (nghệ thuật), thách thức những lối làm phim và xem phim truyền thống (song lại phù hợp với xu thế làm phim đương đại tại châu Âu và thế giới) - thì thường lại không nhận được sự ủng hộ của cơ quan văn hoá trong nước.

Các nhà làm phim độc lập trong nước như Phan Đăng Di, Nguyễn Hoàng Điệp, hay Phạm Nhuệ Giang đều tự đi chào hàng, giới thiệu kịch bản tại các chợ phim gắn liền với các liên hoan phim lớn trên thế giới. Sau đó nếu nhà đầu tư nào quan tâm, họ sẽ đồng ý tài trợ một phần vốn. Các phim như Bi, đừng sợ; Cha và con và...; Đập cánh giữa không trung; Tâm hồn mẹ... thường phải xin vốn từ nhiều quỹ khác nhau mới đủ tiền cho cả hậu kỳ.

Các nhà làm phim độc lập vẫn phải tự xoay xở theo cách sáng tạo cá nhân, dựa trên các mối quan hệ cá nhân mà họ có được trên hành trình làm phim vì nhà nước chưa có chính sách hỗ trợ nhà làm phim độc lập. Vì vậy, nếu có công ty có tiềm lực lớn và nhiều nền tảng như Viettel tài trợ đúng là tín hiệu đáng mừng cho nền điện ảnh nước nhà.

Vậy phim độc lập có gì thú vị khiến một doanh nghiệp lớn như Viettel quyết định ủng hộ?

Phim độc lập (independent film, independent movie, indie film, hay indie movie) là khái niệm xuất hiện từ những năm 1980 của thế kỷ trước. Một bộ phim được tạo ra bên ngoài hệ thống studio, có nội dung phản ánh cái nhìn khác biệt về cuộc sống trong xã hội đương đại, có cốt truyện đầy thử thách, thực tế hơn nhưng cũng thoát ly hơn so với phim studio.

Paul Richardson, chủ tịch kiêm giám đốc điều hành của Sundance Cinemas, chia sẻ quan điểm, định nghĩa các bộ phim độc lập là những bộ phim có ý nghĩa để nói.

Vào đầu những năm 1990 của thế kỷ trước, các nhà làm phim như Todd Haynes, Jim Jarmusch, Spike Lee, Kevin Smith và Richard Linklater trở nên nổi tiếng với thể loại phim độc lập. Dấu ấn phong cách cá nhân của họ khác nhau, nhưng họ đã cùng tạo nên tiêu chí đánh giá, quy ước của dòng phim này.

Đối với các nhà làm phim trẻ đầy nhiệt huyết ngày nay, phim độc lập là tuyên ngôn về quyền tự chủ sáng tạo. Với dòng phim độc lập, họ tự do theo đuổi tầm nhìn cá nhân của mình mà không bị áp lực doanh số.

Đối với Hollywood, phim độc lập được coi như một vườn ươm tài năng, nơi họ có thể chọn ra những gương mặt tươi mới.

Elliot Grove, người sáng lập Liên hoan phim Raindance (1993) và Giải thưởng Điện ảnh Độc lập Anh (1998), sản xuất hơn 700 trăm phim ngắn và 5 phim điện ảnh cho rằng, phim độc lập thiên về trạng thái tâm hồn hơn là tình trạng ngân sách.

Trong khi đó đạo diễn Quentin Tarantino chia sẻ về quan điểm phim indie: 'Phim Blood Simple đã có ảnh hưởng đến tôi trước khi tôi làm phim. Thông thường, có một số bộ phim ra mắt trong giới độc lập truyền cảm hứng cho bạn, khiến bạn mong muốn và tin tưởng vào việc có thể làm ra một tác phẩm tương tự. Tôi muốn thành công như Blood Simple, tôi muốn được nhắc đến như Blood Simple'.

Làm phim độc lập trong ngành công nghiệp điện ảnh có thể tốn từ vài chục ngàn đến vài triệu, thậm chí vài chục triệu USD.  Ví dụ, Dự án Phù thủy Blair của đạo diễn Eduardo Sánchez và Daniel Myrick có kinh phí khoảng 60 nghìn USD, trong khi Juno của Jason Reitman có kinh phí 6,5 triệu USD và Triệu phú khu ổ chuột của Danny Boyle có kinh phí 15 triệu USD - tất cả đều được coi là phim độc lập.

Ngày nay, khái niệm về phim độc lập không gắn liền với mức kinh phí, mà nghĩa rộng hơn, 'độc lập' ở nhiều phương diện. Thuật ngữ này để mô tả chất lượng hoặc 'tinh thần' của một bộ phim. Phim độc lập đôi khi được phân biệt bởi nội dung, phong cách và cách thức hiện thực hóa tầm nhìn nghệ thuật cá nhân của các nhà làm phim.

Nhưng làm phim độc lập ngày nay không giống như trước đây. Nhiều đạo diễn khởi nghiệp với tư cách là nhà làm phim indie hiện được các hãng phim lớn hậu thuẫn. Quentin Tarantino, Jim Jurmuch, Coen Brothers, Wes Anderson, Gaspar Noe, Christopher Nolan… tất cả những người này đều bắt đầu là nhà làm phim indie. Và ngày nay, đây đều là tên tuổi quyền lực trong nền điện ảnh thế giới.

Hiện các hãng phim lớn cũng tài trợ cho nhiều nhà làm phim độc lập trên khắp thế giới. Cục diện mảng phim độc lập đang thay đổi nhanh chóng. Nhưng một điểm khác biệt chính giữa phim đại chúng và phim độc lập là hình thức và cách xử lý đề tài.

Các nhà làm phim trẻ ngày nay coi con đường 'phim độc lập' là con đường theo đuổi quyền tự chủ sáng tạo.

Các bộ phim độc lập còn hay được gọi là dự án đam mê, được thực hiện vì tình yêu nghệ thuật, và nó biểu đạt về thân phận con người theo lăng kính khác biệt của đạo diễn. Họ có trái tim mê say sáng tạo nên khán giả có thể cảm nhận được cảm xúc trong mọi khung hình. Và đó là lý do tại sao một bộ phận khán giả yêu thích chúng và tìm kiếm chúng tại các liên hoan phim uy tín, tầm cỡ trên thế giới.

Trong khi đó, các hãng phim Hollywood chính thống sản xuất phim thường chỉ vì lý do duy nhất: lợi nhuận. Họ làm mọi cách đển bán được nhiều vé nhất tại các rạp chiếu phim truyền thống, bên cạnh đó là tối đa hóa doanh số từ các sản phẩm gắn liền với phim như đồ lưu niệm và trò chơi điện tử. Đó là lý do tại sao phim siêu anh hùng rất phổ biến hiện nay và tràn ngập thị trường.

Phim độc lập là một thứ hoàn toàn khác, được thực hiện vì những lý do hoàn toàn khác. Những bộ phim độc lập thực sự thường được làm vì những động cơ khác ngoài lợi nhuận.

Nhà làm phim muốn kể một câu chuyện, một ý tưởng hoặc có một nhân sinh quan để truyền tải. Họ có thể mang lại cảm xúc cho người xem với nhiều trạng thái cười, khóc, sợ hãi, trăn trở, day dứt, những trải nghiệm cảm xúc vô cùng cá nhân. Khi một nhà làm phim độc lập đang quyết định soạn cảnh quay, tuyển diễn viên, viết lời thoại, họ không quá bận tâm điều  gì sẽ làm hài lòng quảng đại quần chúng. Họ dựa vào trí tưởng tượng của chính mình và quyết định điều gì phù hợp nhất.

Phim độc lập thú vị hơn nhiều so với phim đại chúng bởi vì các nhà làm phim được tự do lựa chọn những gì phù hợp nhất với con người và cá tính sáng tạo của họ. Quyền tự do lựa chọn và thẩm quyền sáng tạo này dẫn đến kết quả là những bộ phim có tính chân thực và độc đáo hơn. Trong khi đó, xu hướng thị trường lại khá dễ đoán, nên các bộ phim đại chúng có xu hướng sản xuất theo công thức, dễ 'đọc vị' và ít gây bất ngờ.

Phong trào làm phim độc lập được nổi lên vào những năm 1990, khi những bộ phim ăn khách như Pulp FictionSex, Lies và Videotape làm nên tên tuổi của các ngôi sao và đạo diễn. Đây là những bộ phim sáng tạo, đầy thử thách, tuy nhiên vẫn thuyết phục được khán giả đại chúng rút hầu bao. Các hãng phim lớn bắt đầu chú ý đến các công ty điện ảnh độc lập.

Tinh thần indie có sức phản kháng mạnh mẽ với sự tập thể hóa. Bình minh của kỷ nguyên kỹ thuật số trong thế kỷ 21 đã dân chủ hóa quá trình làm phim. Giới yêu thích điện ảnh có cơ hội được thưởng thức ngày càng nhiều các tác phẩm nghệ thuật với cách biểu đạt mới. Giải Oscar năm nay được các nhà phê bình điện ảnh nhận xét giống như lễ hội dành cho các phim độc lập với Nomadland giành 3 tượng vàng cho phim, đạo diễn và nữ chính xuất sắc. Và Promissing Young Woman giành giải kịch bản gốc hay nhất, cũng là bộ phim độc lập đầy mới mẻ, day dứt và ám ảnh.

Song song với đó, các nhà làm phim giờ đây cũng có thể sản xuất, phân phối và tiếp thị phim, tự do thử nghiệm theo những cách mà họ không thể tưởng tượng được.

Ngày nay, 'indie' không còn chỉ một thể loại mà còn là một thái độ, một phương pháp sáng tạo vượt ra khỏi khuôn khổ và công thức. Phim độc lập mang đến những câu chuyện độc đáo và kích thích tư duy. Các kịch bản indie đào sâu bên trong con người, những vùng sáng tối khiến bạn cảm nhận được những cảm xúc mà những bộ phim bom tấn kinh phí lớn thường phản ánh khá hời hợt. Phim độc lập có thể gây sốc, kinh ngạc và khiến bạn có cái nhìn thứ hai về thế giới xung quanh, và là một phần không thể thiếu của thế giới điện ảnh.

Phim độc lập thường là dự án của niềm đam mê. Vì các bộ phim độc lập được thực hiện bên ngoài các hãng phim lớn của Hollywood, chúng cũng không bị kiểm duyệt gắt gao và vì vậy các bộ phim có thể rõ ràng, trung thực hơn và tiếp cận các vấn đề nhạy cảm hơn. Các bộ phim sẽ nhàm chán biết bao nếu tất cả các bộ phim đều được sản xuất bởi các hãng phim lớn và bất kỳ chủ đề nào cũng được pha loãng hoặc tẩm đường để thỏa mãn thị hiếu số đông với bỏng ngô và nước ngọt.

Ngoài ra, phim cũng là một loại hình nghệ thuật và nghệ sĩ có quyền thể hiện bản thân - đây là lý do tại sao chúng ta cần điện ảnh độc lập.

Các bộ phim độc lập có sự đa dạng cho phép mọi người tham gia, bất kể bạn thuộc tầng lớp xã hội, chủng tộc hay giới tính nào.

Tại Việt Nam, dòng chảy phim độc lập cũng đã ghi dấu ấn nhiều tên tuổi, biểu đạt nhiều câu chuyện cuộc sống dưới góc nhìn sắc bén của những ưu tư, trăn trở. Khán giả Việt không thể không nhớ đến khúc ca đầy cảm xúc về tình phụ tử qua thước phim đẹp Cha cõng con của Lương Đình Dũng; hay cái nhìn táo bạo về giới trẻ trong những vấn đề ít được đề cập 'tình dục, tình yêu, lối rẽ, lựa chọn, bế tắc, mất phương hướng'… và còn rất rất nhiều tác phẩm ấn tượng khác.

 

Trong giới làm phim độc lập, số lượng đạo diễn tuổi đời khoảng 30 thành công không phải hiếm. Họ đại diện cho tiếng nói tuổi trẻ, tự do, phá cách, nhưng đầy ưu tư về các vấn đề của cuộc sống.

Đáng kể nhất phải kể đến Xavier Dolan mới chỉ 28 tuổi đến Cannes năm lần. Đó là một kỳ tích không giống ai, đặc biệt khi đạo diễn trẻ này không bao giờ rời Cannes tay trắng. Bộ phim đầu tay năm 2009 của Dolan, I Killed My Mother, đã giành được Giải thưởng Điện ảnh Nghệ thuật, Giải Prix Regards Jeunes và Giải SACD tại Cannes Director's Fortnight. Phim thứ hai của anh, Heartbeats cũng đã giành được giải Prix Regards Jeunes. Sau hai năm gián đoạn, Dolan trở lại với bộ phim lãng mạn kéo dài gần ba giờ Laurence Anyways và giành được Queer Palme. Kiệt tác Mommy của anh đã giành được Giải thưởng Juzy của Cannes, trong khi tác phẩm phân cực It's Only the End of the World giành giải Grand Prix vào năm 2016.

Tiếp đến, Trey Edward Shults (31 tuổi) trở thành một gương mặt nổi bật trong thế hệ tiếp theo của các nhà làm phim indie. Tác phẩm Krisha đầu tay của anh đã gây chấn động trong giới phim độc lập trong suốt hai năm, giành được Giải thưởng lớn của Ban giám khảo SXSW vào năm 2015 và giành một số giải thưởng cuối năm vào năm 2016, bao gồm Đạo diễn xuất sắc nhất từ ​​Hội đồng xét duyệt quốc gia, Giải Đạo diễn đột phá tại Gotham Awards.

Hay đặc biệt hơn là trường hợp nữ đạo diễn Quinn Shephard nhen nhóm ý tưởng làm một bộ phim khi cô mới 15 tuổi. Sau 7 năm, Shephard, 22 tuổi, đến Liên hoan phim Tribeca và chinh phục các nhà phê bình với bộ phim do cô viết kịch bản, đạo diễn, biên tập, sản xuất và đóng vai chính dù cô chưa từng qua bất kì trường lớp đào tạo nào.

Việt Nam cũng đã chứng kiến sự trưởng thành không ngừng của những tài năng làm phim độc lập đã tạo nên phong cách đặc biệt như Phan Đăng Di (Bi, đừng sợ; Chàng dâng cá, Nàng ăn hoa; Cha và con và…), Nguyễn Hoàng Điệp (Đập cánh giữa không trung), Lương Đình Dũng (Cha cõng con)… và hiện nay một thế hệ mới như Vũ Minh Nghĩa, Phạm Hoàng Minh Thy (Mây nhưng không mưa) hay Dương Diệu Linh, Phạm Ngọc Lân và Việt Vũ (Thiên đường gọi tên, Dòng sông không nhìn thấy, An act of Affection), Tạ Nguyên Hiệp (Trái tim quái vật)…

Và còn một danh sách không thể kể hết thế hệ đạo diễn trẻ indie đã làm nên một gương mặt điện ảnh cá tính, nghệ thuật, khác biệt.

Cùng với đạo diễn, một số diễn viên đã có bước đột phá lớn khi tham gia các bộ phim độc lập, bao gồm Ben Affleck trong loạt phim Silent Bob và Ellen Page trong Juno. Diễn xuất của diễn viên trong phim độc lập thường được đánh giá cao hơn so với phim bom tấn, vì phim bom tấn thường dựa vào các hiệu ứng đặc biệt và cảnh hành động để kể một câu chuyện hơn là tập trung sâu vào trải nghiệm của các nhân vật.

Với việc gửi phim truyện độc lập và phim ngắn đến các liên hoan phim ngày nay đã trở nên dễ dàng, mọi nhà làm phim đều có cơ hội được chú ý đến. Quentin Tarantino sẽ không có được ngày hôm nay nếu không có liên hoan phim Cannes, nơi anh giành giải Cành Cọ Vàng cho phim Pulp Fiction năm 1994.

Điện ảnh độc lập đã thay đổi vào cuối những năm 1980 và 1990, với sự xuất hiện của hai bộ phim độc lập khuynh đảo phòng vé. Miramax quyết định phát hành Sex, Lies and Videotape sau Liên hoan phim Sundance năm 1989, thu về hơn 26 triệu USD. Sau đó, vào năm 1994, Pulp Fiction (cũng do Miramax phát hành) đã đưa điện ảnh độc lập vào lãnh địa phim bom tấn, vượt qua con số 100 triệu USD, qua đó thuyết phục các hãng phim lớn rằng phim nghệ thuật cũng có thể tạo ra siêu lợi nhuận.

Và thực tế còn nhiều hơn thế nữa: Napoléon Dynamite chi phí 400 nghìn USD nhưng thu lại 44,5 triệu USD ở Bắc Mỹ. Dự án Phù thủy Blair có kinh phí 60 nghìn USD nhưng thu về 140,5 triệu USD ở Bắc Mỹ và 108 triệu USD trên thị trường toàn cầu. Đám cưới Hy Lạp, chi phí 3 triệu USD, nhưng riêng thị trường Bắc Mỹ đã thu về 347 triệu USD.

Monster, bộ phim do Charlize Theron đồng sản xuất, có kinh phí dưới 15 triệu USD, chỉ thu được 48,5 triệu USD. Tuy nhiên, bộ phim đã mang về cho Charlize Theron giải thưởng Cannes và giúp cho nữ diễn viên thăng hạng cát - sê lên đến con số không tưởng.

Các nhà phê bình cho rằng, hiện nay, các phim bom tấn với giải cứu vũ trụ, cứu loài người, các siêu anh hùng, các dị nhân bắt đầu khiến khán giả bội thực, chán ngán với nhiều phần liên tiếp có mô típ giống nhau. Và vì thế đây là thời điểm thích hợp cho sự phục hưng của các bộ phim độc lập.

Tại Việt Nam, tầm nhìn nghệ thuật, gu thưởng thức nghệ thuật của khán giả cũng đã có những bước cải thiện đáng kể. Ngoài yếu tố giải trí, họ cần những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Vì vậy, nếu các tác phẩm độc lập đến được nhiều hơn với khán giả sẽ là tín hiệu đáng mừng của điện ảnh Việt. Thiên thời địa lợi nhân hòa, phải chăng đây đúng là thời điểm dành cho các tài năng trẻ phim độc lập phát huy và mang đến công chúng những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đương đại chất lượng?

Theo Baodatviet.vn

Tin khác