![]()
Các chuyên gia chia sẻ tại tọa đàm. (Ảnh: BTC cung cấp)
Sáng 25/8, Hội Y học dự phòng Việt Nam và Doppelherz Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học nhi khoa 'Tầm quan trọng của vi chất dinh dưỡng với trẻ em'. Sự kiện có sự tham dự của hơn 170 khách mời tham dự là các cán bộ quản lý ngành y tế, đại diện Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh, thành phố khu vực phía bắc.
Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng
Tại hội thảo, các báo cáo khoa học đã đưa ra những số liệu cảnh báo đáng chú ý về tình trạng thiếu hụt vi chất dinh dưỡng.
Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2025) được chia sẻ tại hội thảo, trên phạm vi toàn cầu có tới 75% số quốc gia ghi nhận gánh nặng thiếu máu ở mức trung bình hoặc nặng trong nhóm phụ nữ độ tuổi sinh sản. Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi hiện chiếm tới 39,8%. Tại Việt Nam, dù tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi đã giảm mạnh từ 56,5% (năm 1990) xuống còn 19,6% (năm 2020), việc bảo đảm cân bằng vi chất vẫn là bài toán lớn trong Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2021-2030.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Dương, Viện trưởng Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho biết, Việt Nam đang đồng thời đối mặt với nhiều vấn đề dinh dưỡng, gồm suy dinh dưỡng, thiếu vi chất, thừa cân, béo phì và các bệnh không lây nhiễm liên quan đến dinh dưỡng.
Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi năm 2025 là 14,8%. Tình trạng này còn tập trung cao ở các vùng nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và địa bàn đặc biệt khó khăn.
Đáng chú ý, thiếu vi chất vẫn là vấn đề cần quan tâm. Ở trẻ 6-59 tháng tuổi, tỷ lệ thiếu máu năm 2020 là 18,1%; thiếu vitamin A tiền lâm sàng là 8,9%; có tới 53,3% trẻ có nồng độ kẽm huyết thanh thấp và khoảng 21% trẻ dưới 6 tuổi có nồng độ vitamin D dưới 30 nanomol/lít.
Trong khi đó, thừa cân, béo phì đang gia tăng, đặc biệt ở trẻ 5-19 tuổi tại khu vực thành phố, thị trấn. Người trưởng thành cũng đối mặt với nguy cơ các bệnh không lây nhiễm liên quan đến dinh dưỡng.
![]()
Các chuyên gia cung cấp nhiều thông tin dinh dưỡng hợp lý để bổ sung đầy đủ vi chất cho trẻ phát triển cân bằng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Dương nhấn mạnh, giải quyết vấn đề dinh dưỡng không chỉ là bảo đảm đủ năng lượng mà cần hướng tới chế độ ăn hợp lý, cân đối và đa dạng, phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miền. Đặc biệt, cần tăng cường sử dụng thực phẩm giàu vi chất, rau, củ, quả; hạn chế thực phẩm nhiều muối, đường, chất béo và đồ uống có đường.
Theo ông, dinh dưỡng cần được tiếp cận theo vòng đời, từ bà mẹ, trẻ em đến người trưởng thành, nhằm giảm suy dinh dưỡng, kiểm soát thừa cân, béo phì, phòng, chống bệnh không lây nhiễm, nâng cao tầm vóc, thể lực và trí lực của người Việt Nam.
Bên cạnh thiếu máu dinh dưỡng, vai trò của Vitamin D trong hỗ trợ miễn dịch khi nhiễm trùng cũng được các diễn giả phân tích sâu. Nhu cầu Vitamin D khi cơ thể gặp nhiễm trùng có thể tăng gấp tới 5 lần (từ mức cơ bản 600 UI ở trẻ em lên tới 10.000 UI trong vài tuần đầu ở người trưởng thành/người bệnh để đáp ứng miễn dịch).
Dinh dưỡng góp phần quan trọng vào việc tăng chiều cao người Việt
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Tổng hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, chiều cao của người Việt đã có sự cải thiện đáng kể trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, so với thế giới và khu vực, tầm vóc người Việt vẫn còn khoảng cách. Năm 2026, chiều cao người Việt đứng thứ 150 ở nam và 143 ở nữ trong 195 quốc gia trên thế giới, đứng thứ 4 tại khu vực Đông Nam Á. Trong 45 năm, từ năm 1975 đến năm 2020, chiều cao nam giới Việt Nam tăng 8,1cm, trong khi nữ giới tăng 6,2cm.
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn, chiều cao là một đặc điểm đa gene và có tính di truyền cao. Tài liệu trình bày cho thấy khoảng 60-80% sự khác biệt về chiều cao được quy định bởi gene, trong khi 20-40% còn lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường, đặc biệt là dinh dưỡng.
Điều này có nghĩa, yếu tố di truyền đặt ra nền tảng về tiềm năng chiều cao, nhưng môi trường sống và dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ phát huy tiềm năng đó.
![]()
Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn, Phó Tổng Thư ký Tổng hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam chia sẻ tại hội thảo.
Bên cạnh di truyền, quá trình tăng trưởng chiều cao còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác, gồm dinh dưỡng, giới tính và bệnh tật, vận động và giấc ngủ. Trẻ gái thường có giai đoạn bứt phá chiều cao sớm hơn trẻ trai, trong khi trẻ trai có giai đoạn tăng trưởng dài hơn và tốc độ nhanh hơn. Các yếu tố bệnh tật cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng chiều cao.
Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn khuyến cáo, về dinh dưỡng, trẻ cần được bảo đảm 3 bữa chính, có thể bổ sung bữa phụ và ăn đa dạng thực phẩm, bảo đảm đủ các nhóm thực phẩm thiết yếu. Khẩu phần cần đáp ứng nhu cầu protein, canxi, vitamin D, vitamin K2, sắt, kẽm và các khoáng chất cần thiết khác. Đồng thời, bác sĩ cũng khuyến nghị hạn chế đồ ăn nhanh, nước ngọt có gas và thực phẩm nhiều đường do có thể cản trở hấp thu canxi.
Tiến sĩ, bác sĩ Trương Hồng Sơn cũng nhấn mạnh đến vai trò của canxi, sắt, kẽm, magie, vitamin D3 và vitamin K2 đối với phát triển chiều cao.
'Khi trẻ thiếu nhiều vi chất, việc chỉ bổ sung đơn lẻ một vi chất thường kém hiệu quả hơn. Vì vậy, cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng và có can thiệp đồng bộ theo mạng lưới hiệp đồng của các vi chất', ông Sơn nói.
Đặc biệt, hội thảo cũng chỉ ra mối liên hệ giữa các rối loạn phát triển như ADHD (Hội chứng rối loạn giảm chú ý / tăng động) đối với chất lượng cuộc sống gia đình. Theo các nghiên cứu giai đoạn 2015-2025, chất lượng cuộc sống của các bà mẹ có con mắc ADHD giảm đáng kể trên nhiều khía cạnh (cảm xúc, xã hội, sinh hoạt hàng ngày). Việc phát hiện sớm các dấu hiệu giảm chú ý (như hay quên, dễ xao nhãng, khó duy trì tập trung) và hỗ trợ dinh dưỡng, tâm lý đúng cách đóng vai trò then chốt.
![]()
Các chuyên gia và khách mời tại tọa đàm.
Để giải quyết vấn đề này, các chuyên gia chia sẻ 10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý để bổ sung đầy đủ vi chất cho trẻ phát triển cân bằng; khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 0-24 tháng; sử dụng hằng ngày các loại thực phẩm giàu vi chất dinh dưỡng, đa dạng rau củ quả; bổ sung hợp lý vi chất, sắt, acid folic cho phụ nữ mang thai và trẻ em theo hướng dẫn chuyên môn; bảo đảm sự cân đối giữa Protein, Lipid và Glucid (P:L:G) phù hợp với thể trạng và khuyến nghị dinh dưỡng của Việt Nam.