Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đang xây dựng các điều chỉnh quan trọng trong tuyển sinh đại học, dự kiến giới hạn số lượng nguyện vọng đăng ký, giảm điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ, quy định mỗi cơ sở đào tạo chỉ được sử dụng tối đa 5 phương thức xét tuyển, đồng thời siết tuyển sinh ngành sư phạm và điều chỉnh tổ hợp môn.
Theo các ý kiến phân tích, đây là bước điều chỉnh cần thiết nhằm chấm dứt tình trạng 'một thành tích được tính hai lần', gây méo mó cạnh tranh và làm sai lệch bản chất đánh giá năng lực người học.
Nhìn nhận về loạt thay đổi này, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT) cho rằng, đây là bước 'dọn lại bàn' cần thiết để hệ thống tuyển sinh bớt rối, bớt nhiễu và minh bạch hơn.
![]()
Chứng chỉ IELTS được nhiều ý kiến đánh giá là công cụ chuẩn hóa quốc tế, hỗ trợ quá trình học đại học.
Giảm điểm cộng IELTS: Tránh 'thưởng điểm' thiếu căn cứ
Theo TS Vinh, việc cộng điểm cho các chứng chỉ quốc tế như IELTS, TOEFL lâu nay mang tính 'thưởng điểm' kỹ thuật, nhưng lại thiếu cơ sở thuyết phục về mặt học thuật.
'Khó có thể lý giải vì sao lại cộng 0,5 hay 1–2 điểm. Cùng một năng lực ngoại ngữ nhưng vừa được dùng làm điều kiện xét tuyển, vừa được cộng thêm điểm là chưa hợp lý', TS Vinh nhận định.
Chuyên gia này ủng hộ việc bỏ hoàn toàn cơ chế cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ, thay vào đó sử dụng IELTS đúng vai trò là điều kiện đầu vào theo từng ngành.
Những ngành coi tiếng Anh là năng lực lõi như Ngoại ngữ, Ngoại giao, Ngoại thương hoặc các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh cần quy định rõ ngưỡng ngoại ngữ bắt buộc.
'Khi đó, điểm thi các môn văn hóa là ‘cửa cạnh tranh’, còn ngưỡng tiếng Anh là ‘cửa kỹ thuật’ để đảm bảo học được. Không đạt ngưỡng thì không đủ điều kiện trúng tuyển, dù tổng điểm cao cũng không nên vào nhóm ngành ưu tiên tiếng Anh. Cách làm này công bằng, minh bạch và giảm động cơ chạy theo chứng chỉ chỉ để kiếm điểm cộng', TS Vinh phân tích.
Giới hạn nguyện vọng: Giảm 'rải thảm', buộc chọn nghiêm túc hơn
Liên quan đến dự kiến giới hạn tối đa 10 nguyện vọng, TS Vinh cho rằng nếu được triển khai bài bản, quy định này sẽ giúp thí sinh giảm tâm lý 'rải thảm' tốn kém, đồng thời giúp hệ thống vận hành ổn định hơn.
'Tuyển sinh không nên trở thành cuộc chơi ‘ai biết mẹo nhiều hơn’ hay một dạng xổ số, mục tiêu là đặt người học vào đúng chỗ', ông Vinh nhấn mạnh.
Theo TS Vinh, 10 nguyện vọng là mức 'đủ rộng để có phương án an toàn và đủ hẹp để không quá tùy tiện' buộc thí sinh phải sắp xếp thứ tự ưu tiên thực chất, thay vì đăng ký theo kiểu thử vận may. Tuy nhiên, để chính sách phát huy hiệu quả, điều kiện tiên quyết là thí sinh phải có đủ thông tin.
'Nếu điểm chuẩn các năm, chỉ tiêu, điều kiện phụ, cách quy đổi không được công bố rõ ràng, so sánh được, thì việc chọn nguyện vọng vẫn giống như đi trong sương mù mà thiếu la bàn. Khi đó, nhóm thí sinh yếu thông tin sẽ chịu rủi ro lớn nhất', TS Vinh cảnh báo.
![]()
Ngoại ngữ lại theo sinh viên suốt hành trình đại học.
Mỗi trường tối đa 5 phương thức: Minh bạch nhưng phải dễ hiểu
Một điểm mới khác là quy định mỗi cơ sở đào tạo chỉ được sử dụng tối đa 5 phương thức xét tuyển. Theo TS Vinh, về nguyên tắc, điều này giúp tuyển sinh trở nên dễ hiểu và minh bạch hơn.
'Khi mỗi trường dùng quá nhiều phương thức, thí sinh rất khó tính toán, còn xã hội cũng khó giám sát tính công bằng', ông Vinh nói.
Tuy nhiên, chuyên gia nhấn mạnh, giảm số lượng phương thức chỉ là điều kiện cần. Bộ GD&ĐT cần yêu cầu các trường công khai rõ cách quy đổi, trọng số, mức độ ưu tiên của từng phương thức, kèm theo giải trình dựa trên dữ liệu tuyển sinh các năm trước.
'Minh bạch không nằm ở số lượng ít hay nhiều, mà ở chỗ người học đọc là hiểu và có thể so sánh giữa các lựa chọn. Làm được điều đó, hệ thống sẽ nhẹ hơn và thí sinh cũng an tâm hơn', TS Vinh khẳng định.
Đối với khối ngành đào tạo giáo viên, dự kiến siết chặt nguyện vọng, không cho đăng ký tràn lan được TS Vinh đánh giá là có tác dụng tích cực trong việc nâng cao tính nghiêm túc, hạn chế tình trạng chọn sư phạm như phương án dự phòng rồi dễ bỏ.
Đồng thời, biện pháp này cũng giúp dữ liệu tuyển sinh phản ánh sát hơn nhu cầu và mức độ quan tâm thực sự, qua đó hỗ trợ công tác dự báo, đặt hàng đào tạo của địa phương.
Tuy nhiên, theo TS Vinh, siết kỹ thuật mới chỉ là một phần của bài toán nâng cao chất lượng đầu vào ngành sư phạm.
'Chất lượng không chỉ nằm ở việc đăng ký có tràn lan hay không, mà còn ở chuẩn năng lực, động cơ nghề nghiệp và khả năng theo học', ông Vinh bày tỏ.
![]()
Tuyển sinh đại học cần nhìn IELTS như năng lực dài hạn, không chỉ là con số trong kỳ thi.
Với ngành sư phạm, TS Vinh cho rằng cần cách tiếp cận gọn và thực chất hơn: sàng lọc bằng ngưỡng học thuật cần thiết, kết hợp đánh giá động cơ và phẩm chất phù hợp với nghề trồng người.
'Muốn ngành sư phạm có người giỏi, không chỉ làm cho người ta ‘khó vào’, mà phải làm cho nghề giáo ‘đáng vào’. Siết nguyện vọng là bước kỹ thuật, còn nâng chất lượng phải là một gói chính sách tổng thể', TS Vinh nhấn mạnh.
'Một thành tích bị tính hai lần' PGS.TS Vũ Duy Hải, Trưởng ban Tuyển sinh – Hướng nghiệp, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng điểm cần điều chỉnh quan trọng hiện nay là tình trạng 'một thành tích bị tính hai lần' trong tuyển sinh đại học. Theo ông Hải, với chứng chỉ IELTS, nhiều thí sinh đã được quy đổi sang điểm môn Tiếng Anh, nhưng sau đó lại tiếp tục được cộng điểm thưởng. 'Cách làm này tạo ra sự không công bằng giữa các thí sinh', ông nhấn mạnh. Ông Hải dẫn chứng, với học sinh đạt giải quốc gia môn Toán, dù chắc chắn đã có giải cấp tỉnh, nhưng khi xét tuyển chỉ được tính thành tích cao nhất và chỉ cộng điểm một lần. 'Nguyên tắc này cần được áp dụng nhất quán để đảm bảo công bằng trong tuyển sinh', chuyên gia này cho hay. Điểm cộng IELTS nên được nhìn từ góc độ năng lực dài hạn Là phụ huynh có con chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đại học, anh Bùi Quang Tiến (Hà Nội) cho rằng việc cộng điểm ưu tiên cho thí sinh sở hữu chứng chỉ tiếng Anh quốc tế như IELTS cần được nhìn nhận trong bối cảnh rộng hơn của giáo dục đại học và thị trường lao động hiện nay. Theo xu thế của Cách mạng công nghiệp 4.0, năng lực thực hành và kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp ngày càng được coi trọng. Báo cáo Skills-First của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum) năm 2024 cũng nhấn mạnh vai trò của kỹ năng nền tảng trong đó ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, là công cụ quan trọng giúp người học tự tiếp cận tri thức, học tập suốt đời và sáng tạo. Ở góc nhìn đó, việc có chính sách khuyến khích thí sinh có năng lực tiếng Anh thông qua điểm cộng IELTS là hợp lý. Nhiều phụ huynh cho rằng không nên nhìn IELTS chỉ ở góc độ môn thi, mà là năng lực học tập lâu dài. Có ý kiến cho rằng các khối xét tuyển A, B không liên quan đến môn Ngoại ngữ nên không cần ưu tiên chứng chỉ tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu nhìn xa hơn quá trình học tập đại học, tiếng Anh không chỉ là một môn thi đầu vào mà là công cụ học tập cốt lõi. Sinh viên có nền tảng tiếng Anh tốt sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận tài liệu quốc tế, học các chương trình chất lượng cao, tham gia nghiên cứu và từng bước hình thành năng lực tự học, tự tạo tri thức – điều mà giáo dục đại học đang hướng tới. 'Tôi cũng băn khoăn trước đề xuất xây dựng một chứng chỉ tiếng Anh riêng của Việt Nam để thay thế các chứng chỉ quốc tế. Nếu bài thi này không đạt được mức độ chuẩn hóa, độ tin cậy và sự công nhận rộng rãi như IELTS vốn đã có bề dày kinh nghiệm và được sử dụng toàn cầu thì rất có thể sẽ làm giảm khả năng hội nhập của sinh viên Việt Nam trong môi trường học tập và làm việc khu vực, quốc tế', anh Tiến nói. Vấn đề, theo anh Tiến không nằm ở việc có nên ghi nhận năng lực tiếng Anh hay không, mà là thiết kế chính sách sao cho hài hòa, công bằng và thực sự khuyến khích người học đầu tư vào những năng lực cốt lõi phục vụ lâu dài cho quá trình học tập và nghề nghiệp sau này.