Quyết định giữ ổn định cấu trúc 3 môn, trong đó chọn ngoại ngữ là môn thi thứ ba, được kỳ vọng góp phần giảm áp lực cho học sinh giữa 'cuộc đua' vào lớp 10 vốn ngày càng căng thẳng.
Dù tổng chỉ tiêu gần như giữ nguyên so với năm trước, nhưng năm nay Hà Nội có khoảng 147.000 học sinh tốt nghiệp THCS, tăng khoảng 20.000 em. Điều này đồng nghĩa khoảng 60.000 em sẽ trượt suất học công lập.
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, thí sinh dự tuyển vào lớp 10 công lập không chuyên năm học 2026-2027 sẽ làm ba bài thi gồm Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ.
Với môn ngoại ngữ, học sinh có thể lựa chọn một trong các thứ tiếng: Tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật hoặc Hàn. Đáng chú ý, thí sinh được phép đăng ký thi ngoại ngữ khác với môn đang học tại trường THCS, mở rộng cơ hội lựa chọn.
Bài thi ngoại ngữ được tổ chức theo hình thức trắc nghiệm khách quan, thời gian làm bài 60 phút, sử dụng nhiều mã đề trong cùng phòng thi. Nội dung đề thi bám sát Chương trình giáo dục phổ thông 2018, chủ yếu nằm trong kiến thức lớp 9, đảm bảo phù hợp với yêu cầu cần đạt ở cấp THCS.
![]()
Do số học sinh tốt nghiệp THCS tăng mạnh, tỷ lệ vào công lập chỉ còn khoảng 55%, mức thấp nhất trong vài năm gần đây.
Theo lý giải của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, việc lựa chọn ngoại ngữ làm môn thi thứ ba không chỉ nhằm đảm bảo tính ổn định cho kỳ thi, mà còn phù hợp với định hướng lớn về phát triển năng lực ngoại ngữ cho học sinh.
Gắn với chiến lược đưa tiếng Anh thành 'ngôn ngữ thứ hai'
Quyết định này được xây dựng trên cơ sở các định hướng chiến lược như Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá giáo dục - đào tạo, cũng như các đề án của Chính phủ về việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045.
Những chính sách này đặt mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, mở rộng môi trường sử dụng tiếng Anh trong nhà trường, từng bước hình thành hệ sinh thái ngôn ngữ.
Thực tế tại Hà Nội cũng cho thấy nền tảng ngoại ngữ của học sinh Thủ đô đang có nhiều chuyển biến tích cực. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Hà Nội dẫn đầu cả nước về số điểm 10 môn ngoại ngữ với 128 bài thi đạt tuyệt đối. Ở kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026, 100% thí sinh dự thi môn tiếng Anh của Hà Nội đều đoạt giải.
Bên cạnh đó, số lượng học sinh sở hữu chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế ngày càng tăng, trong đó không ít em đạt IELTS từ 6.0 trở lên - một con số cho thấy sự phổ biến của việc học ngoại ngữ ở lứa tuổi phổ thông.
Theo Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, kết quả khảo sát ý kiến từ các cơ sở giáo dục cũng cho thấy đa số đồng thuận lựa chọn ngoại ngữ là môn thi thứ ba. Trên cả nước, hiện đã có 6/34 địa phương công bố môn thi thứ ba là ngoại ngữ hoặc tiếng Anh.
Giữ 3 môn thi: 'Liều thuốc giảm áp' cho học sinh?
Trong bối cảnh áp lực thi cử ngày càng gia tăng, việc giữ ổn định số môn thi được nhiều người xem là một động thái 'giảm tải' đáng kể cho học sinh lớp 9.
Thực tế, càng gần kỳ thi, không khí học tập tại nhiều gia đình ở Hà Nội trở nên căng thẳng. Lịch học dày đặc từ sáng đến tối, xen kẽ giữa học chính khóa, học thêm và luyện đề khiến không ít học sinh rơi vào trạng thái mệt mỏi kéo dài.
Em Trần Khánh Linh, học sinh lớp 9 tại phường Ngọc Hà cho biết, em gần như không có thời gian nghỉ ngơi khi lịch học kín cả ngày.
'Có hôm em học từ sáng đến tối muộn, lúc nào cũng trong trạng thái căng thẳng vì sợ tụt lại phía sau', Linh chia sẻ.
Áp lực không chỉ đến từ khối lượng kiến thức mà còn từ những lần thi thử. Những bài kiểm tra không đạt kỳ vọng khiến nhiều học sinh rơi vào trạng thái hoang mang, tự nghi ngờ khả năng của bản thân.
![]()
119 trường THPT công lập không chuyên tuyển hơn 78.300 học sinh; Trường THPT chất lượng cao Phan Huy Chú - Đống Đa tuyển 400 chỉ tiêu; 4 trường chuyên tuyển tổng cộng hơn 2.700 học sinh.
Tương tự, em Nguyễn Hoàng Hải, học sinh lớp 9 tại phường Kim Liên cũng cho biết, càng sát ngày thi, cảm giác lo lắng càng rõ rệt.
'Nhiều lúc nằm xuống rồi mà đầu óc vẫn nghĩ đến bài chưa làm xong, lỗi sai trong đề thi thử. Cảm giác lúc nào cũng như đang chạy đua với thời gian', Hải nói.
Không chỉ học sinh, phụ huynh cũng chịu áp lực không kém. Chị Phạm Minh Hạnh (phường Cửa Nam) cho biết, con gái chị những tháng gần đây học gần như không có thời gian nghỉ.
'Nhìn con lúc nào cũng phờ phạc, nhiều hôm về đến nhà là mệt lả, bố mẹ thực sự xót xa', chị Hạnh chia sẻ.
Theo chị Hạnh, điều khiến phụ huynh khó xử là vừa muốn con cố gắng cho kỳ thi quan trọng, vừa lo ngại sức khỏe và tinh thần của con bị ảnh hưởng. Không ít gia đình đã chuẩn bị sẵn phương án dự phòng như đăng ký vào trường tư thục để giảm bớt áp lực tâm lý cho con.
Áp lực vẫn còn, dù đã 'giảm nhiệt'
Dù việc giữ 3 môn thi được xem là bước đi tích cực, nhiều ý kiến cho rằng áp lực thi vào lớp 10 tại Hà Nội vẫn chưa thể giảm đáng kể.
Nguyên nhân không chỉ nằm ở số môn thi, mà còn ở tỷ lệ cạnh tranh cao vào các trường công lập, đặc biệt là các trường top đầu. Chính áp lực 'đỗ - trượt' này khiến học sinh và phụ huynh tự tạo thêm sức ép, dẫn đến tình trạng học thêm dày đặc, luyện đề liên tục.
Nhiều phụ huynh thừa nhận, ngay cả khi không bị ép buộc, học sinh vẫn chủ động học thêm vì lo sợ không đủ năng lực cạnh tranh. Điều này khiến guồng quay học tập ngày càng khắc nghiệt.
Trước thực tế trên, các chuyên gia cho rằng việc giảm số môn thi chỉ là một phần của bài toán. Điều quan trọng hơn là cần thay đổi cách tiếp cận trong ôn luyện và đánh giá học sinh.
Học sinh cần được hướng dẫn xây dựng kế hoạch học tập hợp lý, cân bằng giữa học và nghỉ ngơi, tránh tình trạng học quá tải kéo dài. Đồng thời, gia đình và nhà trường cần đồng hành để giúp các em giữ tâm lý ổn định, tránh tạo áp lực quá mức.
'Điều quan trọng không phải là học sinh đạt được bao nhiêu điểm, mà là các em có thể bước qua kỳ thi với sức khỏe tốt và tinh thần vững vàng', chị Hạnh chia sẻ.
| TT |
Trường |
Chỉ tiêu 2026 |
Chỉ tiêu 2025 |
Tăng/giảm |
| 1 |
THPT Phan Đình Phùng |
720 |
720 |
0 |
| 2 |
THPT Phạm Hồng Thái |
585 |
720 |
-135 |
| 3 |
THPT Nguyễn Trãi - Ba Đình |
688 |
765 |
-77 |
| 4 |
THPT Tây Hồ |
765 |
765 |
0 |
| 5 |
THPT Trần Phú |
765 |
765 |
0 |
| 6 |
THPT Việt Đức |
945 |
945 |
0 |
| 7 |
THPT Thăng Long |
720 |
675 |
45 |
| 8 |
THPT Trần Nhân Tông |
720 |
720 |
0 |
| 9 |
THPT Đoàn Kết - Hai Bà Trưng |
675 |
675 |
0 |
| 10 |
THPT Đống Đa |
675 |
720 |
-45 |
| 11 |
THPT Hoàng Cầu |
540 |
- |
- |
| 12 |
THPT Kim Liên |
765 |
765 |
0 |
| 13 |
THPT Lê Quý Đôn - Đống Đa |
675 |
720 |
-45 |
| 14 |
THPT Quang Trung - Đống Đa |
675 |
675 |
0 |
| 15 |
THPT Nhân Chính |
585 |
585 |
0 |
| 16 |
Trần Hưng Đạo - Thanh Xuân |
675 |
765 |
-90 |
| 17 |
THPT Khương Đình |
675 |
765 |
-90 |
| 18 |
THPT Khương Hạ |
450 |
400 |
50 |
| 19 |
THPT Cầu Giấy |
720 |
720 |
0 |
| 20 |
THPT Yên Hòa |
765 |
765 |
0 |
| 21 |
THPT Hoàng Văn Thụ |
765 |
765 |
0 |
| 22 |
THPT Trương Định |
675 |
675 |
0 |
| 23 |
THPT Việt Nam - Ba Lan |
720 |
765 |
-45 |
| 24 |
THPT Đỗ Mười |
675 |
- |
- |
| 25 |
THPT Ngô Thì Nhậm |
720 |
675 |
45 |
| 26 |
THPT Ngọc Hồi |
675 |
675 |
0 |
| 27 |
THPT Đông Mỹ |
675 |
765 |
-90 |
| 28 |
THPT Nguyễn Quốc Trinh |
765 |
720 |
45 |
| 29 |
THPT Nguyễn Gia Thiều |
720 |
675 |
45 |
| 30 |
THPT Lý Thường Kiệt |
675 |
675 |
0 |
| 31 |
THPT Thạch Bàn |
765 |
765 |
0 |
| 32 |
THPT Phúc Lợi |
765 |
765 |
0 |
| 33 |
THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm |
765 |
765 |
0 |
| 34 |
THPT Dương Xá |
720 |
720 |
0 |
| 35 |
THPT Nguyễn Văn Cừ |
765 |
720 |
45 |
| 36 |
THPT Yên Viên |
720 |
720 |
0 |
| 37 |
THPT Đa Phúc |
765 |
675 |
90 |
| 38 |
THPT Kim Anh |
675 |
675 |
0 |
| 39 |
THPT Minh Phú |
585 |
585 |
0 |
| 40 |
THPT Sóc Sơn |
765 |
675 |
90 |
| 41 |
THPT Trung Giã |
675 |
630 |
45 |
| 42 |
THPT Xuân Giang |
630 |
630 |
0 |
| 43 |
THPT Bắc Thăng Long |
720 |
675 |
45 |
| 44 |
THPT Cổ Loa |
675 |
765 |
-90 |
| 45 |
THPT Đông Anh |
675 |
720 |
-45 |
| 46 |
THPT Liên Hà |
675 |
675 |
0 |
| 47 |
THPT Vân Nội |
765 |
720 |
45 |
| 48 |
THPT Phúc Thịnh |
675 |
- |
- |
| 49 |
THPT Mê Linh |
540 |
630 |
-90 |
| 50 |
THPT Quang Minh |
450 |
540 |
-90 |
| 51 |
THPT Tiền Phong |
585 |
495 |
90 |
| 52 |
THPT Tiến Thịnh |
540 |
495 |
45 |
| 53 |
THPT Tự Lập |
540 |
540 |
0 |
| 54 |
THPT Yên Lãng |
585 |
495 |
90 |
| 55 |
THPT Nguyễn Thị Minh Khai |
675 |
765 |
-90 |
| 56 |
THPT Xuân Đỉnh |
675 |
765 |
-90 |
| 57 |
THPT Thượng Cát |
540 |
585 |
-45 |
| 58 |
THPT Đại Mỗ |
720 |
720 |
0 |
| 59 |
THPT Trung Văn |
585 |
520 |
65 |
| 60 |
THPT Xuân Phương |
675 |
765 |
-90 |
| 61 |
THPT Mỹ Đình |
765 |
765 |
0 |
| 62 |
THPT Hoài Đức A |
630 |
720 |
-90 |
| 63 |
THPT Hoài Đức B |
720 |
720 |
0 |
| 64 |
THPT Vạn Xuân - Hoài Đức |
675 |
675 |
0 |
| 65 |
THPT Hoài Đức C |
585 |
540 |
45 |
| 66 |
THPT Đan Phượng |
675 |
675 |
0 |
| 67 |
THPT Hồng Thái |
630 |
585 |
45 |
| 68 |
THPT Tân Lập |
675 |
630 |
45 |
| 69 |
THPT Thọ Xuân |
540 |
540 |
0 |
| 70 |
THPT Ngọc Tảo |
765 |
720 |
45 |
| 71 |
THPT Phúc Thọ |
675 |
720 |
-45 |
| 72 |
THPT Vân Cốc |
585 |
585 |
0 |
| 73 |
THPT Tùng Thiện |
765 |
765 |
0 |
| 74 |
THPT Xuân Khanh |
675 |
630 |
45 |
| 75 |
THPT Ba Vì |
630 |
630 |
0 |
| 76 |
THPT Bất Bạt |
450 |
450 |
0 |
| 77 |
Phổ thông Dân tộc nội trú |
140 |
140 |
0 |
| 78 |
THPT Ngô Quyền - Ba Vì |
675 |
675 |
0 |
| 79 |
THPT Quảng Oai |
675 |
675 |
0 |
| 80 |
THPT Minh Quang |
540 |
540 |
0 |
| 81 |
THPT Bắc Lương Sơn |
540 |
495 |
45 |
| 82 |
Hai Bà Trưng - Thạch Thất |
675 |
675 |
0 |
| 83 |
Phùng Khắc Khoan - Thạch Thất |
675 |
675 |
0 |
| 84 |
THPT Thạch Thất |
765 |
675 |
90 |
| 85 |
THPT Minh Hà |
450 |
450 |
0 |
| 86 |
THPT Cao Bá Quát - Quốc Oai |
585 |
585 |
0 |
| 87 |
THPT Minh Khai |
675 |
675 |
0 |
| 88 |
THPT Quốc Oai |
675 |
675 |
0 |
| 89 |
THPT Phan Huy Chú - Quốc Oai |
720 |
720 |
0 |
| 90 |
THPT Lê Quý Đôn - Hà Đông |
765 |
765 |
0 |
| 91 |
THPT Quang Trung - Hà Đông |
765 |
720 |
45 |
| 92 |
THPT Trần Hưng Đạo - Hà Đông |
720 |
720 |
0 |
| 93 |
THPT Lê Lợi |
720 |
- |
- |
| 94 |
THPT Chúc Động |
675 |
765 |
-90 |
| 95 |
THPT Chương Mỹ A |
675 |
720 |
-45 |
| 96 |
THPT Chương Mỹ B |
720 |
720 |
0 |
| 97 |
THPT Xuân Mai |
675 |
765 |
-90 |
| 98 |
THPT Nguyễn Văn Trỗi |
720 |
720 |
0 |
| 99 |
THPT Nguyễn Du - Thanh Oai |
675 |
765 |
-90 |
| 100 |
THPT Thanh Oai A |
720 |
720 |
0 |
| 101 |
THPT Thanh Oai B |
720 |
720 |
0 |
| 102 |
THPT Thường Tín |
675 |
675 |
0 |
| 103 |
THPT Nguyễn Trãi - Thường Tín |
540 |
630 |
-90 |
| 104 |
THPT Lý Tử Tấn |
585 |
585 |
0 |
| 105 |
THPT Tô Hiệu - Thường Tín |
585 |
585 |
0 |
| 106 |
THPT Vân Tảo |
630 |
540 |
90 |
| 107 |
THPT Đồng Quan |
585 |
585 |
0 |
| 108 |
THPT Phú Xuyên A |
675 |
675 |
0 |
| 109 |
THPT Phú Xuyên B |
675 |
630 |
45 |
| 110 |
THPT Tân Dân |
495 |
495 |
0 |
| 111 |
THPT Hợp Thanh |
585 |
495 |
90 |
| 112 |
THPT Mỹ Đức A |
720 |
675 |
45 |
| 113 |
THPT Mỹ Đức B |
585 |
585 |
0 |
| 114 |
THPT Mỹ Đức C |
675 |
585 |
90 |
| 115 |
THPT Đại Cường |
450 |
450 |
0 |
| 116 |
THPT Lưu Hoàng |
585 |
495 |
90 |
| 117 |
THPT Trần Đăng Ninh |
585 |
540 |
45 |
| 118 |
THPT Ứng Hòa A |
585 |
585 |
0 |
| 119 |
THPT Ứng Hòa B |
585 |
540 |
45 |