Đây được xem là thay đổi có tính đột phá, trực diện tháo gỡ một 'nút thắt' kéo dài nhiều năm trong quản lý nhân sự ngành giáo dục.
Theo dự thảo, hệ thống chức danh nhà giáo từ mầm non đến giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên sẽ được thiết kế lại theo hướng thống nhất, tinh gọn, gồm 3 cấp độ: Giáo viên - giáo viên chính - giáo viên cao cấp, thay cho cách phân hạng I, II, III hiện hành.
Việc sắp xếp lại này nhằm gắn chặt chức danh với trình độ, năng lực nghề nghiệp và quá trình phát triển chuyên môn của nhà giáo.
Điểm mới được giới giáo viên quan tâm nhất là dự kiến không còn áp dụng cơ chế khống chế tỉ lệ thăng tiến cứng. Trước đây, quy định trần tối đa 10% giáo viên hạng I và 50% hạng II khiến nhiều giáo viên dù đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn, hồ sơ vẫn không thể thăng hạng vì 'hết chỉ tiêu'.
![]()
Giáo viên kỳ vọng cơ hội thăng tiến gắn với năng lực, không còn bị 'kẹt trần' tỷ lệ.
Theo dự thảo, việc xét thăng tiến chức danh nghề nghiệp sẽ căn cứ vào vị trí việc làm, nhu cầu sử dụng nhân lực và cơ cấu chức danh đã được phê duyệt, thay vì phụ thuộc vào tỉ lệ áp dụng chung. Cách tiếp cận này được kỳ vọng đưa thăng tiến nghề nghiệp trở về đúng bản chất: ghi nhận năng lực và đóng góp thực chất của nhà giáo.
Là giáo viên THCS có hơn 15 năm công tác, cô Nguyễn Thị Hường (Hà Nội) cho biết đề xuất bỏ khống chế tỉ lệ đã chạm đúng tâm tư của nhiều giáo viên.
'Có những đồng nghiệp đủ tiêu chuẩn thăng hạng nhiều năm liền nhưng vẫn phải chờ vì trường đã đủ cơ cấu. Cảm giác không phải là thiếu năng lực, mà là không còn ‘suất’. Nếu quy định mới được thông qua, giáo viên sẽ không còn phải chờ đợi trong thế bị động', cô Hường chia sẻ.
Theo cô, khi thăng tiến gắn với vị trí việc làm và nhu cầu thực tế, giáo viên sẽ có thêm động lực phấn đấu, thay vì tâm lý 'cố cũng như không'.
Ở bậc tiểu học, thầy Trần Văn Minh (Bắc Ninh) nhìn nhận bất cập của cơ chế cũ không chỉ nằm ở danh xưng chức danh mà còn tác động trực tiếp đến thu nhập và tâm lý người dạy học.
'Thăng hạng gắn liền với hệ số lương, phụ cấp. Việc đủ điều kiện nhưng không được thăng hạng khiến nhiều giáo viên nản lòng, không còn nhiều động lực đầu tư cho bồi dưỡng, nghiên cứu chuyên môn,' thầy Minh nói.
Theo thầy Minh, nếu việc xét thăng tiến được thực hiện minh bạch, dựa trên nhu cầu thật, chính sách mới sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích giáo viên nâng cao chất lượng dạy học.
![]()
Bỏ khống chế tỉ lệ thăng tiến được xem là động lực mới cho đội ngũ giáo viên.
Dù đồng tình với chủ trương, cô Lê Thị Phương, giáo viên mầm non tại một xã miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên cho rằng, khâu tổ chức thực hiện sẽ quyết định thành công của chính sách.
'Bỏ trần tỉ lệ là rất cần thiết, nhưng quan trọng là cách xây dựng đề án, xác định vị trí việc làm và danh sách đủ điều kiện phải công khai, rõ ràng. Nếu không minh bạch, nguy cơ phát sinh xin - cho vẫn còn', cô Phương bày tỏ.
Theo cô Phương, ở những địa bàn khó khăn, việc xét thăng tiến càng cần tiêu chí cụ thể để bảo đảm quyền lợi cho giáo viên trực tiếp đứng lớp.
Dự thảo Nghị định cũng quy định rõ, cơ quan có thẩm quyền xét thăng tiến phải xây dựng đề án cụ thể, nêu rõ cơ cấu chức danh hiện có, số lượng vị trí cần thăng tiến, danh sách nhà giáo đủ điều kiện và hình thức xét thăng tiến. Thẩm quyền tổ chức được phân cấp phù hợp, người đứng đầu cơ quan quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm toàn diện.
Theo Bộ GD&ĐT, vướng mắc lớn nhất hiện nay là giới hạn cơ cấu, tỷ lệ hạng chức danh nghề nghiệp. Cụ thể, hạng I tối đa không quá 10%, hạng II không quá 50%, còn lại là hạng III và tương đương.
Thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, nhu cầu thăng hạng cao hơn nhiều so với chỉ tiêu được phân bổ. Không ít giáo viên đủ tiêu chuẩn, điều kiện, có thành tích nổi bật nhưng vẫn không được xét thăng hạng vì đơn vị đã 'chạm trần' tỷ lệ.
Điều này khiến giáo viên thiệt thòi về chế độ tiền lương, đồng thời làm giảm động lực phấn đấu lâu dài.
Giai đoạn 2016–2025 cũng là thời kỳ hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến thăng hạng giáo viên có nhiều điều chỉnh. Sự thay đổi liên tục này khiến không ít địa phương gặp khó trong quá trình triển khai, từ xác định tiêu chuẩn đến tổ chức xét, thi.
Bên cạnh đó, sự chồng chéo trong phân định thẩm quyền giữa quy định của Bộ GD&ĐT và quyết định phân cấp của địa phương cũng gây lúng túng. Ở một số nơi, công tác tham mưu, tổ chức thăng hạng còn thiếu kinh nghiệm, quy trình chưa bài bản, dẫn đến việc rà soát, triển khai không thường xuyên, kịp thời.
Đáng chú ý, khi phân cấp về địa phương, có nơi hiểu chưa thống nhất văn bản, yêu cầu giáo viên cung cấp các minh chứng không cần thiết, như chứng chỉ ngoại ngữ, tin học, trong khi Bộ đã cho phép đơn vị sử dụng lao động trực tiếp xác nhận, đánh giá năng lực này.
Một thực tế khác là không phải địa phương nào cũng tổ chức thăng hạng đều đặn. Trước tháng 7/2025 vẫn có một số huyện chưa tổ chức bất kỳ kỳ thăng hạng nào. Hệ quả là nhiều giáo viên dù đủ điều kiện vẫn không có cơ hội đăng ký xét hoặc dự thi.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính, phân cấp thẩm quyền về cấp xã cũng phát sinh thêm khó khăn khi đội ngũ công chức cấp xã thiếu chuyên môn, kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục.
Đối với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, do thay đổi đơn vị chủ quản nhiều lần, công tác thăng hạng càng ít được quan tâm.
Những điều chỉnh này được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng giáo viên 'đủ chuẩn vẫn mòn mỏi chờ thăng hạng', tạo động lực phát triển nghề nghiệp thực chất cho đội ngũ nhà giáo, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Theo thống kê của các tỉnh, thành phố, giai đoạn 2016–2025 (tính đến tháng 12/2025), cả nước có 226.722 giáo viên mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên đã được thăng hạng chức danh nghề nghiệp. Trong gần một thập niên qua, công tác thăng hạng chức danh nghề nghiệp cho giáo viên đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc với quy mô lớn. Tuy nhiên, đằng sau con số hàng trăm nghìn giáo viên được nâng hạng là không ít nghịch lý, vướng mắc khiến nhiều thầy cô đủ điều kiện nhưng vẫn 'đứng ngoài' cơ hội thăng hạng, ảnh hưởng trực tiếp đến động lực nghề nghiệp và quyền lợi tiền lương. Theo đó, 65.502 giáo viên được thăng từ hạng IV lên hạng III; 153.792 giáo viên từ hạng III lên hạng II; và chỉ 7.428 giáo viên từ hạng II lên hạng I.