Theo Điều 42 dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi, cơ sở bán đồ ăn online phải công khai cam kết an toàn thực phẩm, giấy tờ đăng ký kinh doanh và hình ảnh biển hiệu hoặc địa điểm kinh doanh.
Cơ sở chỉ giao đồ ăn phải công khai giấy tờ pháp lý, thông tin cơ sở và gắn nhãn 'không phục vụ tại chỗ, chỉ giao hàng'. Nền tảng thương mại điện tử cũng phải thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh về dấu hiệu mất an toàn thực phẩm.
![]()
Điều 42 dự thảo Luật An toàn thực phẩm sửa đổi (hình ảnh có sử dụng AI).
Quy định này đặt ra câu hỏi: Các cửa hàng bán đồ ăn qua ứng dụng hiện được quản lý ra sao và việc siết trách nhiệm có khả thi?
Đồ ăn bán qua app đang được quản lý ra sao?
Trao đổi với phóng viên, luật sư (LS) Nguyễn Văn Duy, Giám đốc Công ty Luật TNHH Hoàng Duy và Cộng sự cho hay, pháp luật hiện hành chưa có chế định chuyên biệt về an toàn thực phẩm đối với hình thức kinh doanh, giao thực phẩm trực tuyến. Việc quản lý hiện được thực hiện qua nhiều lớp.
Thứ nhất, về điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở bán đồ ăn. Các cơ sở bán đồ ăn qua ứng dụng vẫn được quản lý như cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống thông thường theo Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 46/2026/NĐ-CP. Tùy trường hợp, cơ sở phải có Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm hoặc ký bản cam kết đối với cơ sở nhỏ lẻ.
![]()
Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa đặt ra nghĩa vụ riêng đối với khâu bán và giao thực phẩm trực tuyến. Ảnh: NowFood
Thứ hai, về trách nhiệm của nền tảng. Các ứng dụng giao đồ ăn được xác định là nền tảng trung gian, chịu các nghĩa vụ chung theo pháp luật về thương mại điện tử và Điều 39 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023. Đây chủ yếu là các nghĩa vụ về giao dịch, cung cấp thông tin và bảo vệ người tiêu dùng, chưa phải cơ chế riêng về an toàn thực phẩm.
Thứ ba là cơ chế tự quản của nền tảng. Trên thực tế, các ứng dụng thường kiểm soát đối tác thông qua quy trình xét duyệt, có thể yêu cầu cung cấp giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ tùy thân.
LS Duy cho biết, đây là hình thức kiểm soát mang tính hợp đồng, có thể không đồng nhất giữa các nền tảng và không gắn trực tiếp với chế tài nhà nước.
Không thể chỉ xác thực người bán là đủ
Pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ trách nhiệm của nền tảng trong xác thực người bán, kiểm duyệt, gỡ bỏ hàng hóa vi phạm, cung cấp dữ liệu và bồi thường. Luật Thương mại điện tử 2025 cũng yêu cầu người bán hàng hóa kinh doanh có điều kiện phải cung cấp giấy phép cho nền tảng trước khi đăng bán.
Trong khi đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 quy định trách nhiệm về thông tin, bảo vệ người tiêu dùng và nghĩa vụ của nền tảng số trung gian.
![]()
LS Duy cũng đề xuất phân định rõ ba nhóm chủ thể gồm cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; nền tảng trung gian; đơn vị vận chuyển, với bộ nghĩa vụ tương ứng.
Vì vậy, nếu Điều 42 dự thảo Luật An toàn thực phẩm lặp lại các nghĩa vụ trên, có thể dẫn đến chồng chéo. Theo luật sư, quy định mới nên tập trung vào những đặc thù của an toàn thực phẩm mà pháp luật thương mại điện tử chưa bao quát.
Cụ thể, xác thực người bán không đồng nghĩa với xác thực điều kiện an toàn thực phẩm. Nền tảng biết người bán là ai nhưng chưa chắc biết giấy chứng nhận an toàn thực phẩm còn hiệu lực.
Đồ ăn chế biến sẵn còn tiềm ẩn rủi ro trong chế biến, bảo quản và vận chuyển. Nhiệt độ, thời gian giao nhận đều ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn thực phẩm nhưng chưa có cơ chế chuyên biệt.
Các cơ sở nhỏ lẻ, không đăng ký kinh doanh hoặc bán qua mạng xã hội cũng là khoảng trống cần tính đến. Trong khi đó, hậu kiểm tại nơi chế biến vẫn thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, không thể thay thế bằng việc quản lý giao dịch trên môi trường mạng.
'Đây chính là phần còn thiếu mà một quy định riêng như Điều 42 có thể hướng tới', LS Duy nhấn mạnh.
Siết trách nhiệm nhưng tránh hình thức
Về tính khả thi, LS Duy cho rằng, Điều 42 có thể thực hiện đối với các nghĩa vụ minh bạch thông tin và thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh. Các nền tảng vốn đã có hạ tầng kỹ thuật nên việc yêu cầu đăng tải bản cam kết, giấy tờ pháp lý, hình ảnh biển hiệu hoặc tiếp nhận phản ánh không phải trở ngại lớn.
Tuy nhiên, dự thảo còn một số điểm cần làm rõ.
Một là, ranh giới chủ thể giữa khoản 3, áp dụng với cơ sở chỉ giao đồ ăn trực tuyến, và khoản 4, áp dụng với chủ quản nền tảng, chưa thật sự rạch ròi, có thể gây tranh chấp về trách nhiệm khi thực hiện.
Hai là, khoản 4 mới yêu cầu nền tảng 'thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh', trong khi Luật Thương mại điện tử 2025 đã đặt ra những nghĩa vụ rộng hơn như kiểm duyệt, gỡ bỏ và bồi thường trong các trường hợp luật định. Nếu thiết kế không đồng bộ, quy định mới có thể tạo ra chuẩn trách nhiệm thấp hơn luật chung.
Ba là, yêu cầu đăng tải giấy tờ nhưng không có cơ chế xác thực tính hợp lệ có thể khiến quy định mang tính hình thức. Giấy tờ giả hoặc đã hết hạn vẫn có thể được đăng tải nếu không được kiểm tra.
Cần xác thực giấy phép, kiểm soát cả khâu giao hàng
Để Điều 42 thực sự khả thi, LS Duy cho rằng trước hết cần xử lý vấn đề kỹ thuật lập pháp.
Theo đó, những nội dung đã được Luật Thương mại điện tử 2025 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 điều chỉnh nên được loại bỏ hoặc dẫn chiếu, tránh chồng chéo. Điều 42 nên tập trung vào phần đặc thù của an toàn thực phẩm.
Trong đó, cần nghiên cứu bổ sung nghĩa vụ để nền tảng xác minh Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm của cơ sở thông qua liên thông với cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm, thay vì chỉ yêu cầu người bán tự đăng tải giấy tờ.
![]()
Đồng thời, cần quy định rõ hơn về điều kiện đối với đồ ăn chế biến sẵn, việc bảo quản và vận chuyển thực phẩm; có cơ chế phù hợp với cơ sở nhỏ lẻ và hoạt động kinh doanh qua mạng xã hội.
Luật sư cũng đề xuất phân định rõ ba nhóm chủ thể gồm cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; nền tảng trung gian; đơn vị vận chuyển, với bộ nghĩa vụ tương ứng.
Cuối cùng, cần ban hành đồng bộ quy định xử phạt vi phạm hành chính, xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu để việc xác thực không mang tính hình thức và phân cấp rõ trách nhiệm hậu kiểm cho chính quyền địa phương.
Theo luật sư, ứng dụng công cụ số, đánh giá và thanh tra theo mức độ nguy cơ sẽ giúp cơ quan quản lý tập trung nguồn lực vào những cơ sở, sản phẩm có nguy cơ cao.