![]()
Cán bộ ngành lâm nghiệp và kiểm lâm ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý, bảo vệ rừng.
Với diện tích rừng lớn, trải dài ở các địa phương, trong khi lực lượng cán bộ quản lý, giám sát và bảo vệ rừng thì mỏng. Để khắc phục tình trạng này, ngay từ năm 2000, ngành lâm nghiệp và kiểm lâm đã chú trọng ứng dụng các loại ảnh vệ tinh có độ phân giải cao như: NOAA, MODIS… Sau đó, ngành cũng sử dụng hệ thống định vị toàn cầu GPS, công cụ SMART, thiết bị bay không người lái (UAV) và nhiều phần mềm, thiết bị số khác góp phần nâng cao hiệu quả và tính chính xác của hoạt động đặc thù này. Nhất là, khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành đã mở ra cơ hội lớn cho ngành.
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi thì quá trình chuyển đổi số của ngành lâm nghiệp và kiểm lâm cũng gặp phải không ít khó khăn, hạn chế như: Chi phí đầu tư ban đầu đối với các thiết bị máy bay không người lái (UAV), ảnh vệ tinh hoặc các phần mềm chuyên dụng là rất lớn. Điều này đặc biệt khó khăn với các tỉnh miền núi có nguồn ngân sách hạn chế.
Ngoài ra, mặc dù đã có chủ trương trang bị cho cán bộ kiểm lâm các thiết bị công nghệ (máy tính bảng, điện thoại thông minh…) nhưng vẫn còn hạn chế khiến việc ứng dụng công nghệ chưa đồng đều. Tại các khu vực vùng sâu, vùng xa có thời tiết khắc nghiệt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến độ bền các thiết bị công nghệ, máy tính...
Chia sẻ về những khó khăn trong thực tế, ông Khương Thanh Long, Giám đốc Vườn quốc gia Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng cho biết: Quá trình ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số đã đặt ra một số thách thức cho ngành như: Hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ, nhiều khu vực trong vùng lõi và vùng đệm không có sóng điện thoại, thiếu điện... đã gây khó khăn cho việc truyền dữ liệu tại hiện trường. Một số máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại cũng chưa được trang bị đầy đủ, chưa có các phần mềm chuyên dụng. Phần lớn lực lượng kiểm lâm ở địa phương chưa được đào tạo chuyên sâu về công nghệ số và thiếu kỹ năng sử dụng các phần mềm, thiết bị GPS, flycam, bản đồ số…
Bên cạnh đó, Luật Lâm nghiệp năm 2017 cũng chưa đề cập sâu đến hoạt động chuyển đổi số, nhất là công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI),… trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, việc áp dụng các công nghệ mới vào thực tiễn có thể vướng mắc về pháp lý, thủ tục hành chính. Việc đầu tư trang thiết bị hiện đại như flycam, trạm giám sát tự động, phần mềm phân tích dữ liệu,… đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, trong khi ngân sách dành cho bảo vệ rừng còn hạn chế. Công tác cập nhật bản đồ số về hiện trạng rừng còn phụ thuộc vào ảnh viễn thám không đồng bộ, độ phân giải thấp ở một số vùng, gây khó khăn khi so sánh dữ liệu thời gian thực.
Cùng quan điểm khi chia sẻ về những khó khăn trong công tác chuyển đổi số của ngành, ông Nguyễn Huy Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La cho rằng: Mặc dù được các cấp quan tâm tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn về công tác chuyển đổi số cho các kiểm lâm phụ trách địa bàn nhưng chưa thể thực hiện trên diện rộng do gặp nhiều khó khăn về kinh phí, thời gian. Một số cán bộ kiểm lâm lớn tuổi cũng gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp nhận kiến thức về công nghệ dẫn đến việc vận hành, khai thác các tính năng phần mềm, thiết bị công nghệ mới còn hạn chế. Bên cạnh đó, việc thiếu các quy định về định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật khi ứng dụng công nghệ.Thí dụ như: tần suất bay flycam, độ chính xác của dữ liệu viễn thám… có thể gây khó khăn trong đánh giá hiệu quả và thanh quyết toán các dự án.
Dưới góc độ ngành viễn thám, Tiến sĩ Trần Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục Viễn thám, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Quá trình ứng dụng công nghệ viễn thám vào hoạt động quản lý, giám sát và bảo vệ rừng đang đặt ra một số khó khăn, bất cập như: Mặc dù có dữ liệu miễn phí nhưng độ phân giải cao, ảnh radar hoặc ảnh thời gian thực vẫn đòi hỏi chi phí lớn. Hơn nữa, tại nhiều khu vực rừng núi thường xuyên mây che phủ, ảnh quang học không sử dụng được, trong khi ảnh radar chưa phổ biến. Sự thiếu hụt về trang thiết bị kỹ thuật, hạ tầng xử lý dữ liệu lớn cũng là một trở ngại lớn đối với việc ứng dụng rộng rãi công nghệ này. Ngoài ra, sự ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào phân tích ảnh viễn thám vẫn còn mới mẻ, đòi hỏi dữ liệu huấn luyện phù hợp, đội ngũ kỹ thuật có trình độ cao và hệ thống thuật toán ổn định.
Để khắc phục những khó khăn, hạn chế trong quá trình chuyển đổi số gắn với hoạt động quản lý, giám sát và bảo vệ rừng, theo ông Nguyễn Hữu Thiện, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Cục đã đề ra một số giải pháp như: Tập trung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy chuẩn kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số ngành lâm nghiệp. Đưa nội dung đầu tư hạ tầng công nghệ vào các chương trình, dự án của ngành, trong đó ưu tiên bố trí hệ thống máy chủ, đường truyền và thiết bị đầu cuối tại các đơn vị quản lý rừng trên phạm vi toàn quốc. Chú trọng công tác duy tu bảo dưỡng, bảo đảm vận hành ổn định và liên tục hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, đáp ứng nhu cầu thu thập, phân tích, chia sẻ dữ liệu và hỗ trợ điều hành trong công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng.
Thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng công nghệ số trong nghiệp vụ quản lý, bảo vệ rừng trên cơ sở tiếp tục triển khai các nền tảng ứng dụng viễn thám, ảnh vệ tinh, thiết bị bay không người lái… Xây dựng mô hình trung tâm chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng thông minh thông qua việc tích hợp dữ liệu cảnh báo rừng, dữ liệu khí tượng thủy văn, bản đồ hành chính và lớp phủ rừng. Tiếp tục tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn kỹ năng công nghệ số cho cán bộ kiểm lâm, nhất là kỹ năng khai thác và phân tích dữ liệu, sử dụng phần mềm viễn thám, điều hành hệ thống giám sát trực tuyến…Tăng cường công tác phối hợp liên ngành và các cấp, trong đó chủ động phối hợp các đơn vị chuyên ngành, các địa phương và tổ chức quốc tế để chia sẻ nguồn ảnh viễn thám, hỗ trợ kỹ thuật, đồng thời bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư…