Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công Luận, GS.TS Huỳnh Văn Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: 'Đại hội XIV sẽ thực sự mở ra một chương mới cho giáo dục Việt Nam – nơi người thầy là động lực, là ánh sáng, là điểm tựa cho sự phát triển quốc gia'.
![]()
+ Nhìn lại 40 năm Đổi mới (bắt đầu từ Đại hội VI năm 1986 đến Đại hội XIV năm 2026) , giáo dục Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ 'xóa mù chữ, phổ cập' đến hội nhập quốc tế. Theo ông, đâu là thành tựu lớn nhất mang tính nền tảng mà ngành giáo dục đạt được trong giai đoạn này, đặc biệt đối với việc hình thành nguồn nhân lực cho đất nước?
- Đây là câu hỏi khó đòi hỏi có sự đối sánh cẩn trọng tuy nhiên nếu phải chọn một thành tựu mang tính nền tảng nhất của giáo dục Việt Nam sau 40 năm Đổi mới, thì đó chính là sự chuyển dịch từ nền giáo dục mang tính chất bao cấp, nặng tính bổ túc, sang một nền giáo dục hướng đến phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Từ phong trào xóa mù chữ, phổ cập tiểu học, rồi đến phổ cập trung học cơ sở và phổ cập giáo dục mầm non 5 tuổi - Việt Nam đã từng bước xây dựng được một nền tảng học vấn phổ thông rộng khắp, góp phần nâng cao dân trí trên diện rộng.
Nhưng thành tựu lớn nhất, không nằm ở con số thống kê hay tỷ lệ, mà chính là việc định hình lại tư duy phát triển con người. Giáo dục không còn là truyền đạt kiến thức đơn thuần, mà đã dần hướng đến việc hình thành năng lực, phẩm chất, thích ứng toàn cầu nhất là chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Đây chính là tiền đề cốt lõi cho việc phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Đặc biệt, trong hơn một thập kỷ gần đây, hệ thống giáo dục đại học và đào tạo giáo viên đã từng bước chuyển mình theo hướng hội nhập, áp dụng khung trình độ quốc gia, tăng cường kiểm định chất lượng và khuyến khích nghiên cứu ứng dụng.
Sự chủ động trong tự chủ đại học, kết nối quốc tế, và đổi mới phương pháp đào tạo đã mở ra con đường phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thích ứng với thời đại số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng như bắt đầu có thể cạnh tranh nhất định với bối cảnh toàn cầu.
![]()
Tỉ lệ người theo học các ngành STEM ở nước ta đạt 35% ở mỗi trình độ đào tạo, trong đó ít nhất 2,5% thuộc các ngành khoa học cơ bản và 18% thuộc các ngành liên quan tới công nghệ số. Ảnh: NB&CL
+ Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, nhiều ý kiến cho rằng giáo dục đã có những bước tiến dài nhưng vẫn chưa tạo được đột phá tương xứng với kỳ vọng. Theo ông, giới hạn lớn nhất của giáo dục Việt Nam sau 40 năm Đổi mới là gì và nguyên nhân sâu xa nằm ở đâu?
- 'Giáo dục Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn chưa tạo được đột phá tương xứng với kỳ vọng' là một mệnh đề rất khó đánh giá và chưa hẳn là công bằng xét về đánh giá. Nhưng có thể nói rằng sự kỳ vọng bao giờ cũng là thách thức nhưng chưa hẳn là thước đo.
Tuy nhiên, nếu phải phản hồi ý kiến này thì có thể nói giới hạn lớn nhất, theo đánh giá tổng thể, không nằm ở cơ sở vật chất, cũng không chỉ ở chính sách - mà là ở thực thi quản lý giáo dục.
Chúng ta vẫn còn ít nhiều tư duy hành chính trong điều hành giáo dục, nơi mà cải cách dễ trở thành hình thức, chính sách dễ bị áp dụng máy móc, thiếu linh hoạt. Trong khi đó, giáo dục vốn là lĩnh vực cần sáng tạo, nhạy bén và cá thể hóa. Cấu trúc quản trị còn nhiều dấu ấn về mệnh lệnh, phân tầng trách nhiệm chưa rõ ràng, khiến nhiều sáng kiến không được nuôi dưỡng, chuyển giao đúng nghĩa...
Có thể có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những vấn đề dễ thấy là chúng ta chưa tạo ra một hệ sinh thái giáo dục nơi sự đổi mới được bảo vệ, thử nghiệm được khuyến khích và thất bại được học hỏi. Cần tiếp tục nghiên cứu sâu về các rào cản khó có thể tạo đột phá trong giáo dục để đảm bảo cải tiến đúng nghĩa.
![]()
Những đứa trẻ tại điểm trường Suối Thín và Pha Luông (thuộc Trường Tiểu học Chiềng Sơn, xã Chiềng Sơn, tỉnh Sơn La) vẫn nhọc nhằn ngày đêm xuống núi bám từng con chữ.
+ Nếu phải rút ra một bài học quan trọng nhất từ 40 năm Đổi mới giáo dục, bài học đó nên được đặt ở đâu trong quá trình hoạch định chính sách giáo dục giai đoạn tới, đặc biệt là đào tạo đội ngũ giáo viên là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng cải cách? Nghị quyết 71-NQ/TW đặt giáo dục vào vị trí nhân tố quan trọng đối với vận mệnh dân tộc.
- Nếu phải rút ra một bài học quý giá nhất, đó chính là: Mọi cải cách giáo dục sẽ không thành công nếu không bắt đầu từ đội ngũ giáo viên.
Không có chương trình nào tự nó tạo ra đổi mới. Không có sách giáo khoa nào tự nó thay đổi cách dạy. Tất cả đều phải đi qua bàn tay, trái tim, khối óc của người thầy. Giáo viên chính là lực lượng then chốt, là 'mắt xích' quyết định giữa chính sách và thực tiễn.
Do đó, trong hoạch định chính sách giáo dục thời gian tới, cần đặt việc phát triển đội ngũ giáo viên ở vị trí trung tâm. Điều đó không chỉ là đào tạo lại, mà là kiến tạo lại hệ sinh thái hỗ trợ giáo viên: Từ chính sách lương – đãi ngộ, đến cơ hội phát triển chuyên môn, đến cơ chế khuyến khích sáng tạo và thăng tiến nghề nghiệp và nhất là phải tạo ra thói quen tích cực, hành động thường xuyên và liên tục bồi dưỡng bản lĩnh nghề nghiệp và năng lực nghề nghiệp.
Giáo viên cần được xem là nhà kiến tạo, không chỉ là người thực thi. Kinh nghiệm này rút tỉa nếu nghiêm túc xem xét và áp dụng sẽ là điểm tựa vững chắc để bước vào kỷ nguyên giáo dục mới: chủ động, khai phóng và bền vững.
![]()
Sinh viên học tập tại phòng sạch, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đào tạo và nghiên cứu về bán dẫn. Ảnh: NB&CL
+ Trong bối cảnh Đại hội XIV chuẩn bị xác lập những định hướng phát triển mới cho đất nước, theo ông, giáo dục và đặc biệt là giáo dục sư phạm cần được nhìn nhận như một lĩnh vực phục vụ phát triển, hay phải được coi là động lực dẫn dắt phát triển?
Trong bối cảnh Đại hội XIV sắp diễn ra, với nhiều kỳ vọng sẽ xác lập những định hướng mới cho sự nghiệp phát triển đất nước, câu hỏi về vai trò của giáo dục và đặc biệt là giáo dục sư phạm không còn mang tính học thuật mà là một câu hỏi chiến lược, nhiều thách thức cần có những nghiên cứu hệ thống bài bản với tầm nhìn bao quát, đủ luận cứ…
Theo hiểu biết và những nghiên cứu mà tôi có được giáo dục không chỉ phục vụ phát triển, mà phải được nhìn nhận là động lực dẫn dắt phát triển.
Bởi giáo dục là nơi định hình tư duy, kiến tạo giá trị, và nuôi dưỡng nhân lực. Mọi mô hình kinh tế, dù tiên tiến đến đâu, nếu thiếu con người có năng lực, bản lĩnh và đạo đức – đều chỉ là 'vỏ rỗng'. Nếu giáo dục chỉ theo sau để 'phục vụ' những gì đã được hoạch định, thì chúng ta luôn đi sau thời cuộc. Chỉ khi giáo dục là người đi trước, là nơi ươm mầm đổi mới và thúc đẩy thay đổi, thì phát triển mới bền vững.
Đặc biệt, giáo dục sư phạm cần là trung tâm của trung tâm. Đào tạo ra người dạy học không đơn thuần là nhân đôi tri thức, mà là nhân lên ảnh hưởng. Một giáo viên tốt có thể thay đổi cả cuộc đời học sinh. Một thế hệ giáo viên chất lượng sẽ tạo ra một thế hệ công dân sáng tạo và trách nhiệm. Vậy nên, đầu tư cho sư phạm là đầu tư cho tương lai quốc gia.
![]()
Viện Trí tuệ nhân tạo, Trường Đại học Công nghệ trao đổi cùng cán bộ và sinh viên từ Đại học South Wales, Vương quốc Anh. Ảnh: UET
+ Nếu được gửi một thông điệp ngắn tới các nhà hoạch định chính sách trước thềm Đại hội XIV, từ góc nhìn của một nhà giáo gắn bó lâu năm với đào tạo giáo viên, ông muốn nhấn mạnh điều gì để giáo dục Việt Nam thực sự tạo ra bước ngoặt trong chặng đường phát triển sắp tới?
- 'Rất khó cải cách giáo dục hiệu quả nếu chưa thể chăm lo đúng mức và đúng nghĩa cho người thầy' là điều tôi trải nghiệm và cũng có thể thấu hiểu khi trải qua nhiều vị trí, vai trò nhất là có nhiều cơ hội tiếp xúc, làm việc với giáo viên và cán bộ quản lý không chỉ là nhà quản lý mà là chuyên gia, người đồng hành...
Chúng ta đã nói nhiều về chương trình, về sách giáo khoa, về chuyển đổi số, về kiểm định… nhưng điều cốt lõi nhất vẫn là con người và trong giáo dục, người thầy là cốt lõi của cốt lõi.
Hãy tạo cơ chế để người giáo viên được sống bằng nghề, được tự hào vì nghề, và được phát triển bền vững trong nghề. Một nền giáo dục chỉ có thể bứt phá nếu chính sách đặt người thầy vào trung tâm của cải cách, và nhìn họ không chỉ là người thực hiện, mà là chủ thể kiến tạo.
![]()
Một nền giáo dục chỉ có thể bứt phá nếu chính sách đặt người thầy vào trung tâm của cải cách.
Song song đó, hãy tạo điều kiện nhiều hơn cho các trường sư phạm được thật sự sáng tạo, được đầu tư xứng đáng, để không chỉ tuyển chọn được người giỏi mà còn giữ được người giỏi. Hãy để các trường sư phạm chịu trách nhiệm từ đầu về chất lượng của người làm nghề và thể hiện vai trò dẫn dắt, bổ trợ suốt hành trình nghề nghiệp của người làm thầy cô. Chúng ta cần lắm sinh viên sư phạm giỏi, cần nhất những thầy cô không ngừng hoàn thiện bản thân với mục tiêu và lộ trình cùng với người giám sát, huấn luyện hay hỗ trợ có tầm, có chất!
Tôi tin rằng, nếu làm được điều đó, Đại hội XIV sẽ thực sự mở ra một chương mới cho giáo dục Việt Nam – nơi người thầy là động lực, là ánh sáng, là điểm tựa cho sự phát triển quốc gia.
Hiện, có gần 20 trường đại học Việt Nam góp mặt ở hai bảng xếp hạng uy tín, có quy mô lớn như QS và Times Higher Education (THE). Con số này tăng gần 10 lần so với năm 2018, khi chỉ có Đại học Quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tham gia. Với THE, các trường được đánh giá dựa trên 18 tiêu chí, chia thành 5 nhóm, gồm: Giảng dạy (Teaching), Môi trường nghiên cứu (Research Environment), Chất lượng nghiên cứu (Research Quality), Chuyển giao công nghệ (Industry), Mức độ quốc tế hóa (International Outlook). Mỗi nhóm tiêu chí chiếm 4-30% trọng số, nhiều nhất ở khía cạnh chất lượng nghiên cứu. Còn QS đánh giá 9 tiêu chí, trong đó danh tiếng học thuật chiếm trọng số lớn nhất - 30%, kế đến là số trích dẫn (20%). Các tiêu chí còn lại là uy tín của trường, tỷ lệ giảng viên/sinh viên, tính quốc tế, mạng lưới nghiên cứu quốc tế, kết quả việc làm và tính bền vững, chiếm 5-15%. Do tiêu chí khác nhau, thứ hạng của đại học Việt Nam trên hai bảng xếp hạng này cũng khác nhau. Vị trí cao nhất hiện có là 127 châu Á, thuộc về trường Đại học Duy Tân, trên bảng xếp hạng QS năm 2025. Ở bảng THE, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh đang xếp cao nhất - 136 châu Á.