![]()
Học sinh Trường THPT Nguyễn Văn Thoại (phường Hòa Xuân, TP Đà Nẵng) trong một tiết học trên lớp. Ảnh XUÂN QUỲNH
Ở Hà Nội, khoảng 147.000 học sinh hoàn thành THCS nhưng chỉ có gần 88.000 suất vào lớp 10 công lập, đồng nghĩa khoảng 60.000 em phải tìm hướng khác. TPHCM cũng tương tự: hơn 169.000 học sinh, nhưng chỉ tiêu công lập khoảng 103.700, tức hơn 65.000 em không có chỗ. Đà Nẵng 'dễ thở' hơn, song với gần 46.000 học sinh lớp 9 và khoảng 39.đ00 chỉ tiêu, vẫn còn khoảng 7.000 em phải rẽ sang hướng khác. Gộp lại, đó là một lực lượng không nhỏ học sinh buộc phải rời khỏi 'đường chính' của giáo dục phổ thông công lập.
![]()
Việc đảm bảo trường lớp cho bậc học THPT hiện nay là một khó khăn lớn đối với nhiều địa phương. Ảnh XUÂN QUỲNH
Có ý kiến cho rằng, không vào công lập thì học tư hoặc học nghề, không có gì đáng lo. Nghe thì có lý, nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Hệ thống trường tư học phí và các chi phí khác rất cao so với phần lớn gia đình Việt Nam nên không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện để cho con mình theo học. Còn học nghề – một hướng đi đúng trong dài hạn – chủ yếu đặt ở trung tâm các đô thị, không phải gia đình nào cũng đủ điều kiện và sự yên tâm để các con theo học. Hơn nữa, ở tuổi 14 - 15, khi nền tảng kiến thức phổ thông thiếu trước hụt sau, tâm lý chưa thật sự sẵn sàng cũng là một cản ngại lớn trong lựa chọn hướng đi của bản thân khi phần lớn các lựa chọn theo hoàn cảnh chứ không phải là lựa chọn chiến lược.
![]()
Học sinh Trường THPT Nguyễn Văn Thoại (phường Hòa Xuân, TP Đà Nẵng) trong một tiết học trên lớp
Câu chuyện 'hàng chục ngàn học sinh rớt lớp 10 công lập' hôm nay cứ ngỡ là chuyên riêng của gia đình hay của ngành giáo dục mà là liên quan trực tiếp đến bài toán phát triển của đất nước trong những thập niên tới. Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc, hướng đến mục tiêu trở thành quốc gia phát triển trong vòng một, hai thập kỷ tới. Muốn vậy, nguồn nhân lực phải đủ về số lượng và mạnh về chất lượng, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số đang diễn ra nhanh chóng.
Trong khi đó, theo nhiều dự báo, Việt Nam sẽ sớm bước vào giai đoạn già hóa dân số. Nghĩa là 'cửa sổ dân số vàng' không còn rộng. Nếu ngay từ hôm nay, một bộ phận lớn học sinh không được tiếp cận đầy đủ giáo dục phổ thông – nền tảng cơ bản để phát triển kỹ năng và tri thức – thì vài năm tới, chúng ta sẽ đối diện với khoảng trống nhân lực có chất lượng.
Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra mục tiêu rất rõ: đến năm 2030, ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành trung học phổ thông hoặc tương đương. Mốc thời gian này không xa. Những học sinh đang thi vào lớp 10 năm nay chính là lứa sẽ tốt nghiệp vào năm 2030. Nếu ngay từ 'cửa ngõ' lớp 10 đã bị thu hẹp, thì mục tiêu 85% không phải là chuyện đơn giản.
Rõ ràng, vấn đề không nằm ở việc 'có học công lập hay không', mà ở chỗ hệ thống giáo dục có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu học tập chính đáng và phù hợp với người dân hay không. Khi nhu cầu tăng nhanh mà nguồn cung trường lớp, giáo viên không theo kịp, thì áp lực dồn lên học sinh là điều tất yếu.
Giải bài toán này không dễ. Xây thêm trường, mở rộng lớp học, tăng biên chế giáo viên đều cần nguồn lực lớn và thời gian. Trong khi đó, ngành giáo dục vẫn đang rào cản về định biên và tinh giảm hằng năm như nhiều lĩnh vực khác. Khó nhưng không thể không làm. Nếu không có những điều chỉnh kịp thời để có những 'lời giải' tối ưu thì hệ lụy cho tương lai là không nhỏ.
Đã đến lúc cần nhìn nhận việc đầu tư cho giáo dục phổ thông như một khoản 'đầu tư phát triển', chứ không chỉ là 'chi thường xuyên'. Bên cạnh đó, cần tổ chức lại hệ thống giáo dục theo hướng linh hoạt hơn, đó là tăng cường liên thông giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, nâng chất lượng đào tạo nghề. Đồng thời, đảm bảo học sinh có đủ nền tảng kiến thức phổ thống trước khi rẽ hướng để không bị htj hẫng khi tham gia thị trường lao động trong tương lai.
Giáo dục là nền tảng quan trọng của quốc gia. Một nền giáo tối ưu là nền giáo dục trước hết là tạo cơ hội công bằng đối với tất cả mọi người sau đó mới đến mở ra nhiều con đường phù hợp cho số đông. Điều ấy đồng nghĩa với việc mở rộng cánh cửa trường công lập để các em trong được tiếp cận nền giáo dục bình đẳng. Còn trường tư thục hay trường nghề đó là một lựa chọn khác theo sở trường, sở thích, phù hợp với điều kiện của gia đình chứ không để trường Tư thục và trường nghề trở thành 'lựa chọn cùng đường' như hiện nay.
Nếu hôm nay chúng ta chấp nhận việc hàng chục ngàn học sinh 'rớt' khỏi hệ thống công lập như một điều tất yếu, thì ngày mai, cái giá phải trả có thể sẽ lớn hơn rất nhiều – không chỉ với từng gia đình, mà với cả tương lai phát triển của đất nước.