Nhân ngày Khí tượng thế giới (23/3), ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo Thời tiết, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, Cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ góc nhìn chuyên môn về một số đặc thù cốt lõi của công việc dự báo khí tượng thủy văn.
Theo ông Hưởng, nhiều người kỳ vọng bản tin dự báo thời tiết phải 'đúng 100%', còn về bản chất, dự báo được xây dựng dựa trên các mô hình động lực học khí quyển đại dương, trong khi điều kiện ban đầu luôn có sai số. Vì vậy, mỗi kịch bản dự báo đều mang tính xác suất. Sai lệch vài chục km về quỹ đạo bão hoặc chênh lệch vài giờ về thời điểm mưa lớn là điều khoa học có thể lý giải, không phải do thiếu trách nhiệm.
![]()
Dự báo viên nên được nhìn nhận là chuyên gia phân tích rủi ro dựa trên xác suất, chứ không phải người 'khẳng định chắc chắn' một kịch bản duy nhất. Ảnh: Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia.
Một đặc điểm quan trọng khác là sai số sẽ tăng theo thời hạn dự báo. Dự báo 24 giờ khác căn bản với 72 - 120 giờ. Hệ khí quyển là hệ phi tuyến, rất nhạy cảm với điều kiện ban đầu nên càng dự báo xa thì mức độ bất định càng lớn. Vì vậy, việc cập nhật và điều chỉnh bản tin theo từng chu kỳ là hoạt động bình thường trong nghiệp vụ.
Cũng theo ông Hưởng, dự báo thời tiết không chỉ đơn giản là 'xem mây đoán mưa'. Quá trình này bao gồm việc phân tích số liệu quan trắc bề mặt, cao không, dữ liệu radar, vệ tinh, sản phẩm mô hình số trị (NWP), dự báo tổ hợp (ensemble forecast), đánh giá sai lệch hệ thống (bias correction) và kết hợp với kinh nghiệm địa phương. Đây là một quá trình phân tích khoa học đa nguồn, đa tầng, không mang tính cảm tính.
Trong nhiều trường hợp, bản tin cảnh báo có thể được đưa ra ở mức độ thận trọng cao nhưng thực tế thiệt hại lại không lớn. Điều này không đồng nghĩa là dự báo sai. Trong quản trị rủi ro thiên tai, nguyên tắc quan trọng là ưu tiên an toàn, chấp nhận cảnh báo sớm để giảm thiểu hậu quả xấu nhất có thể xảy ra.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, công tác dự báo cũng trở nên khó khăn hơn. Tần suất và cường độ các hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa rất lớn cục bộ, nắng nóng gay gắt hay bão tăng cấp nhanh đang có xu hướng gia tăng, khiến nhiều mô hình dự báo truyền thống gặp thách thức lớn hơn so với trước đây.
'Điều người dân thường chưa thấy hết là dự báo khí tượng thủy văn là hoạt động khoa học dựa trên xác suất, chịu ràng buộc bởi bất định tự nhiên của hệ khí quyển, luôn phải cân bằng giữa độ chính xác kỹ thuật và yêu cầu cảnh báo an toàn', ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo Thời tiết, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia chia sẻ.
Cùng quan điểm trên, ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia, Bộ Nông Nghiệp và Môi trường cho rằng, xã hội cần nhìn nhận ngành dự báo khí tượng thủy văn không chỉ là đơn vị cung cấp bản tin thời tiết, mà là một trụ cột khoa học, kỹ thuật trong hệ thống quản trị rủi ro thiên tai quốc gia.
Theo ông Khiêm, dự báo cần được xem là tuyến phòng ngừa đầu tiên trong chuỗi quản trị rủi ro gồm phòng ngừa, chuẩn bị, ứng phó, phục hồi. Thông tin dự báo và cảnh báo sớm là cơ sở để các cơ quan chức năng chủ động sơ tán dân, vận hành hồ chứa, điều tiết giao thông và bảo đảm an toàn sản xuất. Nếu không có dữ liệu khí tượng thủy văn kịp thời và tin cậy, hiệu quả của các khâu phía khó đạt hiệu quả tối ưu.
Ông Khiêm cũng cho rằng, ngành dự báo cần được nhìn nhận như một hạ tầng dữ liệu chiến lược của quốc gia. Dữ liệu quan trắc, mô hình số trị, hệ thống radar - vệ tinh và các sản phẩm dự báo không chỉ phục vụ phòng chống thiên tai mà còn là nền tảng quan trọng cho quy hoạch đô thị, nông nghiệp, năng lượng tái tạo và quản lý rủi ro trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, dự báo viên nên được nhìn nhận là chuyên gia phân tích rủi ro dựa trên xác suất, chứ không phải người 'khẳng định chắc chắn' một kịch bản duy nhất.
'Xã hội cần hiểu rằng điều chỉnh bản tin theo diễn biến mới là biểu hiện của tính khoa học và trách nhiệm, không phải sự thiếu nhất quán. Tôi mong xã hội nhìn nhận ngành dự báo như một thiết chế khoa học phục vụ lợi ích công, cần được đầu tư ổn định về nhân lực, công nghệ và cơ sở dữ liệu dài hạn. Khi vai trò đó được hiểu đúng, sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, chính quyền và người dân sẽ chặt chẽ hơn, từ đó nâng cao năng lực chống chịu của quốc gia trước thiên tai', ông Mai Văn Khiêm, Giám đốc Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia chia sẻ.
Bên cạnh đó, cũng theo ông Khiêm, ngành dự báo cần được xem là đối tác trong quá trình điều hành chính sách, tham gia sớm vào các quyết sách liên quan đến phòng chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, thay vì chỉ xuất hiện ở giai đoạn cung cấp thông tin cuối cùng. Khi dự báo được tích hợp vào quy trình ra quyết định theo cách hệ thống (impact-based forecasting), hiệu quả giảm thiểu thiệt hại sẽ cao hơn đáng kể.