![]()
Hồ Hoa Mai trong Vườn quốc gia U Minh Thượng.
Ít người nghĩ rằng, ở chính nơi này, 24 năm trước từng là 'vùng đất chết' theo đúng nghĩa đen, bởi vụ cháy rừng kinh hoàng.
Ký ức vụ cháy rừng năm 2002
Lịch sử vùng đất Kiên Giang (nay là An Giang) có một 'vết sẹo' chưa bao giờ phai mờ là vụ cháy Vườn quốc gia U Minh Thượng năm 2002. Dẫn chúng tôi qua các khu rừng tràm, nhắc lại chuyện xưa, ông Nguyễn Văn Điện, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ và phát triển rừng Vườn quốc gia giọng chùng xuống: 'Toàn bộ khu vực xanh tươi này từng là tâm điểm của vụ cháy rừng lịch sử. Khi ngọn lửa hung tàn đi qua, chỉ còn lại một màu đen tối tăm, mùi tro than khét lẹt bốc lên, kéo dài hàng nghìn héc-ta'.
Nhân chứng sống của thời khắc đau thương ấy là Đại tá, Anh hùng Lao động Bành Văn Đởm (thường gọi Mười Đởm), nguyên Giám đốc Vườn quốc gia. Ở tuổi 97, mái tóc bạc phơ như mây trắng, nhưng ký ức về ngày 24/3/2002 vẫn hiện rõ trong tâm trí ông như mới hôm qua. 'Lúc đó, khu bảo tồn được Chính phủ quyết định nâng lên thành Vườn quốc gia chưa đầy hai tháng. Niềm vui của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa phương chưa kịp trọn vẹn thì ngọn lửa bùng lên tại Tiểu khu 138', ông Mười Đởm nghẹn ngào nhớ lại.
Trận chiến với giặc lửa năm ấy kéo dài gần 20 ngày đêm. Khoảng 4.000 con người, từ kiểm lâm, bộ đội, công an đến người dân địa phương đổ biết bao mồ hôi, nước mắt giữa khói bụi mù trời. Nhưng sức người nhỏ bé trước cơn cuồng nộ của thiên nhiên. Gặp mùa hạn dài, lớp thực bì khô khốc, nhất là lớp than bùn quá dày khiến ngọn lửa không chỉ cháy trên bề mặt mà còn âm ỉ dưới lòng đất. Cứ dập tắt chỗ này, lửa lại bùng lên chỗ khác. 'Khi đám lửa cuối cùng được dập tắt, thống kê hơn 3.200ha rừng bị thiệt hại, trong đó 2.200ha bị xóa sổ hoàn toàn. Nhìn cảnh hoang tàn, đất xám xịt, tràm đổ rạp, trong nhiều ngày tôi đã không cầm nổi nước mắt', ông Mười Đởm tâm sự.
Nhà cách cổng chào Vườn quốc gia U Minh Thượng không xa, ông Lữ Văn Nót, dù 75 tuổi vẫn phải thốt lên: 'Thật kinh hoàng, tôi chưa từng chứng kiến vụ cháy nào lớn như vậy'. Lúc đó, ông Nót tham gia hậu cần, vận động nhân dân vùng đệm tham gia nấu cơm, tiếp nước bộ đội, công an chữa cháy.
Sau vụ cháy, Vườn quốc gia U Minh Thượng đứng trước bài toán nan giải mà giới khoa học lâm nghiệp thời bấy giờ đánh giá là bất khả thi. Lớp than bùn được ví như trái tim, như túi dưỡng chất của rừng tràm bị thiêu rụi, tổn thương nặng nề. Nước biến đổi mạnh, đất hóa phèn chua loét, hệ sinh thái gần như bị phá hủy hoàn toàn. Nhiều chuyên gia lâm nghiệp trong nước và nước ngoài lo ngại, phải mất ít nhất nửa thế kỷ thì rừng mới có thể phục hồi, hoặc thậm chí vĩnh viễn không trở lại một U Minh Thượng như xưa.
Hồi sinh trên đất chết
Với phương châm 'còn người là còn rừng', ông Mười Đởm cùng nhân viên Vườn quốc gia bắt tay ngay vào công cuộc tái sinh từ đống tro tàn. Những sáng kiến độc đáo, chưa từng có trong tiền lệ lâm nghiệp Việt Nam được áp dụng, một trong số đó là phương pháp 'trục sậy sạ tràm'. Thông thường, người ta trồng rừng bằng cách trồng cây con, nhưng trên nền đất cháy U Minh Thượng, cách làm truyền thống này tốn kém, mất thời gian mà tỷ lệ sống rất thấp do đất nhiễm phèn nặng. Cán bộ Vườn quốc gia đã đưa máy móc, trục những bãi sậy hoang dại thành từng ô lớn, làm tơi xốp đất, sau đó sạ hạt tràm trực tiếp xuống. Trời không phụ công người, những chấm xanh li ti đầu tiên sau đó đã nhú lên mạnh mẽ.
Cùng với trồng mới, Vườn quốc gia thiết kế lại bản đồ thủy văn, kiên quyết giữ vùng lõi hơn 8.000ha nhằm bảo vệ cao nhất diện tích than bùn còn sót lại. Hệ thống đê bao, cống đập được xây dựng khoa học để điều tiết chế độ thủy văn: Giữ nước vào mùa khô để duy trì độ ẩm cho thảm thực vật; đồng thời xả phèn vào mùa mưa để cây cối sinh trưởng. Dòng nước ngọt được quản lý bài bản đã quyết định khả năng phục hồi của rừng tràm.
Hành trình 24 năm qua là chu kỳ sinh sôi nảy nở kỳ diệu. Đưa chúng tôi đi trên con đường tuần tra được đầu tư tươm tất, ông Điện tự hào khẳng định: 'Chúng tôi quyết tâm khôi phục, bảo vệ rừng, như bảo vệ chính lá phổi của mình'. Sau vụ cháy, Vườn quốc gia tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung 100ha tràm. Trên 280ha đất than bùn suy thoái, đơn vị trồng sáu loài cây bản địa, đến nay đã cao 5-7m, thân thẳng tắp vươn lên trong nắng, đan thành những bức tường xanh kiên cố. Diện tích rừng phục hồi sau cháy đã đạt gần 2.530ha. Bên cạnh tràm, các loài cây bản địa khác cùng nhau quần tụ như mốp, bùi, dấu dầu ba lá, trâm và cà na.
Phó Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Thượng Trần Văn Thắng cho biết, dù đạt kỳ tích tưởng chừng như không thể, song những người gác rừng vẫn không nguôi trăn trở. Vết thương năm 2002 vẫn để lại di chứng. Một số khu vực cháy mất hoàn toàn lớp than bùn dày, biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, làm thay đổi lượng mưa, nhiệt độ tăng cao và khô hạn kéo dài. 'Chỉ cần một chút lơ là trong quản lý, ngọn lửa có thể cháy bất cứ lúc nào, xóa sổ công sức của hơn 20 năm ròng rã', ông Thắng lo ngại.
Sự phục hồi của rừng đã tái tạo lại 'ngôi nhà' an lành cho nhiều loài hoang dã. Thống kê mới nhất cho thấy, hiện có tới 57 loài động vật, thực vật nguy cấp, quý hiếm đang sinh sống, chọn nơi đây làm nơi trú ẩn an toàn. Tại Trung tâm Du lịch sinh thái, Giáo dục môi trường và Cứu hộ phát triển sinh vật rộng 4ha nằm cạnh bìa rừng, những nhân viên đang hằng ngày đóng vai 'bảo mẫu' cho muôn loài.
Anh Danh Ngọt đang vệ sinh chuồng trại cho hàng chục con cua đinh (ba ba) chia sẻ: 'Động vật khi được bàn giao chúng tôi chăm sóc thường đã kiệt sức, thương tích hoặc yếu do quá trình vận chuyển kéo dài. Nếu chậm trễ, hoặc chăm sóc không đúng cách, các cá thể có thể chết và nguy cơ không thể tái tạo loài đang hiện hữu'. Nhờ sự mát tay và lòng yêu nghề của những 'bảo mẫu' như anh Ngọt, thời gian qua, trung tâm đã cứu sống hàng trăm loài động vật quý hiếm, đồng thời tái tạo hàng triệu con cá giống,...
Trên cánh rừng U Minh Thượng, từ đống tro tàn của ngày cũ, một sức sống mới đã vươn lên mạnh mẽ, nhờ bàn tay của những con người không tiếc mồ hôi và công sức cho rừng.