![]()
Quang cảnh hội nghị.
Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ, tăng cường sự tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xã, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong giai đoạn từ năm 2021-2025, với sự hỗ trợ tài chính của Quỹ MSD cho các bà mẹ, Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA) phối hợp cùng Bộ Y tế đã triển khai Dự án 'Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam' tại 60 xã khó khăn thuộc 6 tỉnh miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Dự án đã xây dựng Báo cáo đánh giá cuối kỳ và sẽ kết thúc vào cuối tháng 3/2026.
Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Y tế Nguyễn Tri Thức nhấn mạnh: Việt Nam tự hào là một trong những điểm sáng trên thế giới về thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững. Đặc biệt, vào năm 2015, Việt Nam là một trong sáu quốc gia trên thế giới đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về giảm tử vong mẹ. Cụ thể, tỷ số tử vong mẹ (MMR) toàn quốc đã giảm đáng kể, giảm từ 165/100.000 ca đẻ sống vào năm 2000 xuống còn khoảng 46 ca, hơn 100.000 trẻ đẻ sống vào 2023. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang đối mặt với thách thức lớn về sự bất bình đẳng: tỷ số tử vong mẹ tại các vùng sâu, vùng xa, nhất là khu vực miền núi và dân tộc thiểu số, vẫn cao gấp 2-3 lần so với mức trung bình quốc gia, có nơi lên tới 100-150 ca/100.000 ca đẻ sống.
'Bộ Y tế đã và đang triển khai nhiều giải pháp quyết liệt nhằm thu hẹp khoảng cách này. Đặc biệt, trong Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, chúng tôi đặt ưu tiên hàng đầu vào việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ và Kế hoạch hóa gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng khó khăn.
Trong bối cảnh nguồn lực còn hạn chế, Bộ Y tế xác định việc áp dụng các thực hành sáng tạo, bao gồm ứng dụng kỹ thuật số và lồng ghép yếu tố văn hóa truyền thống vào chăm sóc sức khỏe ban đầu tại miền núi, là một trong những định hướng ưu tiên để giảm tử vong mẹ một cách bền vững', Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức chia sẻ.
Trong bài phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức đã gửi lời chúc mừng và biểu dương thành tích của các tỉnh triển khai dự án, đặc biệt biểu dương các cô đỡ thôn bản, các hộ sinh ở thôn, bản, ở 60 xã vùng sâu, vùng xa và toàn thể cán bộ y tế của 6 tỉnh dự án. Đồng thời cũng đề nghị Sở Y tế các tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số chủ động nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ dự án này để triển khai hiệu quả tại địa phương mình.
Thay mặt Bộ Y tế, Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức trân trọng cảm ơn Quỹ Dân số Liên hợp quốc và Quỹ MSD cho các bà mẹ vì những hỗ trợ quý báu, đồng thời mong muốn các nhà tài trợ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam để mỗi ca sinh đều là một hành trình an toàn. Bộ Y tế cam kết nỗ lực hết mình để đạt được các mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) bao gồm giảm tử vong mẹ vào năm 2030.
Báo cáo tại hội nghị cho thấy, sáng kiến Dự án 'Không để ai bị bỏ lại phía sau: Các can thiệp đổi mới sáng tạo nhằm giảm tử vong mẹ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam' đã chứng minh rằng các can thiệp trọng tâm dựa trên bằng chứng và phù hợp với văn hóa có thể cải thiện đáng kể kết quả sức khỏe bà mẹ tại các cộng đồng khó tiếp cận nhất của đất nước.
Theo báo cáo, mặc dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ, sự chênh lệch vẫn tồn tại ở các vùng dân tộc thiểu số xa xôi. Rào cản địa lý, khả năng tiếp cận dịch vụ hạn chế và các chuẩn mực xã hội lâu đời tiếp tục ảnh hưởng đến khả năng nhận được sự chăm sóc kịp thời trong quá trình mang thai và sinh nở của phụ nữ.
Sáng kiến đã đạt được kết quả quan trọng về chăm sóc sản khoa an toàn: trong suốt 4 năm dự án, không ghi nhận trường hợp tử vong bà mẹ nào trên tất cả các địa bàn triển khai dự án trong suốt thời gian thực hiện. Thành công cứu sống con người này được thúc đẩy bởi nỗ lực huy động sức khỏe bà mẹ toàn diện thông qua đào tạo hơn 200 cán bộ y tế và 650 tình nguyện viên cộng đồng, tiếp cận 17.000 thành viên cộng đồng thông qua 2.300 sự kiện địa phương. Những nỗ lực này đã tạo ra một sự thay đổi mạnh mẽ trong hành vi chăm sóc sức khỏe giữa đường cơ sở năm 2021 và đánh giá cuối kỳ năm 2025.
Đáng chú ý nhất là tỷ lệ bà mẹ dân tộc thiểu số được chăm sóc thai sản thiết yếu tăng gấp ba lần, từ 11% lên 36%; tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế tăng gần gấp đôi, từ 29,9% lên 57,1%. Đặc biệt, tỷ lệ sinh tại cơ sở y tế đạt 100% ở Bắc Kạn (cũ) và tỷ lệ chăm sóc sau sinh đạt 98,3% ở Đắk Nông (cũ).
Tại hội nghị, ông Matt Jackson, Trưởng đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam cho biết: 'Sáng kiến này cho thấy các phương pháp tiếp cận đổi mới và phù hợp với văn hóa có thể tháo gỡ những rào cản mà phụ nữ dân tộc thiểu số phải đối mặt khi tiếp cận các dịch vụ sức khỏe bà mẹ. Những bài học kinh nghiệm thu được cung cấp bằng chứng vững chắc để cung cấp thông tin cho các chính sách quốc gia và địa phương nhằm thu hẹp khoảng cách về sức khỏe ở các vùng dân tộc ít người'.
Bà Katharina Geppert, Tổng Giám đốc MSD Việt Nam cũng bổ sung: 'Kết quả của sáng kiến kéo dài 4 năm này cho thấy khi đổi mới sáng tạo, sự tham gia của cộng đồng và quan hệ đối tác chặt chẽ cùng kết hợp lại, chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những thay đổi có ý nghĩa về sức khỏe bà mẹ - ngay cả ở những cộng đồng xa xôi nhất. Chúng tôi tự hào được hợp tác cùng Bộ Y tế và UNFPA để hỗ trợ các giải pháp giúp bảo đảm quá trình mang thai và sinh con an toàn hơn cho phụ nữ tại các vùng dân tộc ít người của Việt Nam'.
Theo ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), cải thiện sức khỏe bà mẹ ở các vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số vẫn là ưu tiên hàng đầu của quốc gia đối với ngành y tế. Những bằng chứng chất lượng từ dự án này cũng sẽ cung cấp thông tin cho việc thiết kế và giám sát thực hiện các kế hoạch hành động quốc gia về sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại tuyến cơ sở.
Về định hướng lồng ghép và nhân rộng mô hình, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức cho rằng, những kết quả của dự án cần được phổ biến rộng rãi vượt ra ngoài phạm vi 60 xã dự án. Vấn đề cốt lõi hiện nay là thể chế hóa và lồng ghép các thực hành tốt này vào Chương trình mục tiêu quốc gia.
Bộ Y tế đã có chủ trương chuẩn hóa mô hình đào tạo cô đỡ thôn bản, quy trình giám sát hỗ trợ và tài liệu truyền thông lồng ghép văn hóa. Chúng ta cần tận dụng tối đa nguồn lực Trung ương, địa phương và các nguồn lực quốc tế để bảo đảm các sáng kiến kỹ thuật số và truyền thông tích hợp các yếu tố văn hóa sẽ được tích hợp vào các chương trình y tế cơ sở.